PHẦN I: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vật liệu composite 1. Khái niệm vật liệu composite tre- gỗ [4] Vật liệu composite là vật liệu tổ hợp từ hai hoặc nhiều hơn hai vật liệu có bản chất khác nhau. Vật liệu tạo thành có nhiều tính chất tốt hơn các vật liệu thành phần xét riêng rẽ, chẳng hạn, có độ bền cơ học cao, khả năng chống chịu môi trường tốt, cách âm, cách nhiệt tốt.
Vật liệu composite tre - gỗ (còn được gọi là vật liệu phức hợp tre- gỗ), là chỉ loại vật liệu làm từ 2 loại nguyên liệu chủ yếu là tre và gỗ, dựa vào hình thức kết hợp theo cùng kết cấu hoặc không cùng kết cấu, đồng thời dựa vào tác dụng của keo dán để tạo thành. Sản phẩm của nó có rất nhiều loại, hiện nay chủ yếu được quy nạp thành những loại sau: * Loại hình ván dán tre - gỗ composite (còn gọi là ván dán phức hợp tre gỗ): Tiến hành tráng keo cho ván gỗ mỏng và thảm tre đan, sau đó xếp lớp dựa theo nguyên tắc 2 lớp liền kề có chiều vuông góc với nhau, thông qua ép nhiệt tạo thành ván. Độ phẳng của bề mặt, chất lượng ngoại quan, sai số về chiều dày đều được cải thiện đáng kể so với loại ván dán làm hoàn toàn từ nguyên liệu tre trúc (ván cót ép), giá thành cũng được giảm thấp. * Loại hình ván dăm và ván MDF tre - gỗ composite (còn gọi là ván dăm và ván MDF phức hợp tre gỗ): Là chỉ loại hình ván được hình thành từ sự hỗn hợp giữa dăm hoặc sợi tre với dăm hoặc sợi gỗ, dưới tác dụng của keo dán, thông qua ép nhiệt để tạo thành.
Nó có các loại như: ván dăm tre - gỗ composite, ván dăm định hướng tre - gỗ composite, ván MDF tre - gỗ composite, ngoài ra còn có các loại ván dăm gỗ được phủ mặt bằng vật liệu tre, hay ván dăm tre được dán phủ mặt bằng ván gỗ mỏng,… * Loại ván LVL tre - gỗ composite (còn gọi là ván phức hợp LVL tre gỗ): Các thanh tre được kết hợp với ván gỗ mỏng hoặc các thanh gỗ nhỏ theo chiều thuận thớ, thông qua ép keo tạo thành ván. Loại ván này có khối lượng thể tích cao, tính chịu mài mòn của bề mặt tốt, lực bám đinh lớn, cường dộ uốn tĩnh theo chiều dọc lớn hơn 100 MPa, còn cường độ uốn tĩnh theo chiều ngang lại 1 tương đối thấp. Vật liệu này thường được dùng làm ván nền của các toa xe lửa, hay dùng trong các công trình kiến trúc, một số loại ván sàn tre - gỗ composite cũng thuộc loại vật liệu này. * Ván dán mặt: Đây là loại ván lạng được sản xuất từ nguyên liệu tre trúc, chúng có vân thớ đẹp, được sử dụng để dán phủ lên bề mặt các loại ván dăm, ván dán hay các loại ván ghép thanh từ gỗ, từ đó làm tăng tính trang sức cho bề mặt của ván nhân tạo.
* Vật liệu ghép định hướng giữa các thanh tre và gỗ: Đây là loại vật liệu composite được tạo thành theo hình thức ghép định hướng của các thanh nhỏ, các thanh gỗ được thông qua tráng keo sau đó kết hợp với các nan tre nhỏ theo hướng dọc thớ, đồng thời thông qua ép nhiệt tạo thành những tấm vật liệu có dạng hình khối hoặc những tấm ván dạng định hướng. Chúng được sử dụng chủ yếu trong các công trình kết cấu, có cường độ chịu nén ép và chịu uốn cao. * Các loại khác: Các loại sản phẩm tre - gỗ composite khác còn có ván tre - gỗ composite dạng tổ ong, ván tre - gỗ composite dạng rỗng tâm,… Ván tre - gỗ composite dạng tổ ong là đem cây tre cắt thành những ống tròn có chiều dài từ 10-20mm, hai đầu được đánh nhẵn, sau đó sấy khô đến độ ẩm khoảng 10%, rồi chúng được ghép vào thành vật liệu lớp lõi, còn 2 đầu được dán phủ các lớp ván dán để tạo thành sản phẩm. Loại sản phẩm này được sử dụng chủ yếu làm vách ngăn trong phòng, làm cánh cửa,… 1.
Phân loại vât liệu composite Theo tiến sỹ Trần Ích Thịnh [15] vật liệu composite có thể được phân loại theo hình dạng hoặc theo bản chất của các vật liệu thành phần, ngoài ra cũng có thể phân loại theo cấu trúc của vật liệu composite. Phân loại theo hình dạng của vật liệu thành phần ta có: Vật liệu composite cốt sợi và vật liệu composite cốt hạt. Phân loại theo bản chất vật liệu thành phần nền ta có: Composite hữu cơ (nhựa), composite nền kim loại, composite nền khoáng. Phân loại theo cấu trúc của vật liệu composite ta có: Vật liệu composite 2 dạng mặt (tấm, vỏ, …), vật liệu composite dạng lớp, vật liệu composite phức hợp.
Hiện nay người ta thường phân vật liệu composite ra các loại sau [5]: Hình 1.1:Vật liệu composite tre- gỗ làm sàn công ten nơ.2: Vật liệu composite tre- gỗ dạng khối.3: Composite tre- gỗ dùng làm ván sàn.4: Vật liệu composite làm từ gỗ xẻ và ván cót từ tre.5: Vật liệu coposite tre- gỗ dạng khung rỗng dùng trong xây dựng. Ứng dụng của vật liệu composite trong thực tế [5], [9], [22] 4 Ngày nay, vât liệu composite được sử dụng trong nhiều lĩnh vực của nền kính tế quốc dân. Đặc biệt, vật liệu composite gỗ và vật liệu composite tre đã được con người sử dụng trong đời sống sinh hoạt và trong các ngành như: công nghệ sản xuất hàng mộc, xây dựng, giao thông vận tải, bao bì… Trong công nghệ sản xuất hàng mộc vật liệu composite được dùng làm các chi tiết dạng tấm phẳng như: mặt bàn, mặt ghế, giường, cánh tủ, hồi tủ…(Hình 1.6: Vật liệu composite được dùng trong đồ mộc Trong xây dựng nó được dùng làm trần nhà, vách ngăn, khuôn bê tông… Trong nhiều trường hợp người ta còn dùng vật liệu composite gỗ để làm các chi tiết chịu lực như dầm, xà, khung chịu lực, mái nhà, bậc cầu thang,… (hình 1.7: Vật liệu composite dùng trong xây dựng 5 Trong giao thông vận tải người ta sử dụng vật liệu composite tre và composite gỗ để làm sàn tàu, sàn xe ô tô, vỏ tàu xe, toa tầu hoả, công-ten-nơ, giường, ghế trong các toa xe hành khách, xây dựng cầu đường,…(hình 1.8: Vật liệu composite được dùng trong giao thông Nhìn chung, ứng dụng của vật liệu composite rất đa dạng và ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Lịch sử vấn đề nghiên cứu [9], [4], [20], [22] Vật liệu composite đã có một lịch sử ứng dụng từ nhiều năm và chúng xuất hiện chính xác vào lúc nào cũng chưa được biết, nhưng những sử sách liên quan đến vật liệu này đã cho thấy nó được con người tạo ra và sử dụng từ rất sớm, như những khay cổ của người Isaren làm bằng bụi gạch có độ bền cao, gỗ dán đã được người Ai Cập cổ đại sử dụng cho thấy rằng: Gỗ có thể được sắp xếp theo một cách nào đó để có độ bền cao, có khả năng chống chịu với môi trường ẩm, nhiệt tốt.
Tình hình nghiên cứu, sử dụng tre, gỗ và tre gỗ kết hợp trên thế giới Như chúng ta đã trình bày ở trên, lịch sử ứng dụng vật liệu composite có từ nhiều năm. Song vật liệu composite gỗ và composite tre mới chỉ xuất hiện ở cuối thế kỷ thứ XIX khi ngành công nghệ hoá học phát triển, tìm ra những loại keo dán mới và công nghiệp sản xuất ván nhân tạo ra đời, đã cho ra nhiều loại hình sản phẩm rất đa dạng. Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới như Ấn độ, Trung quốc, Thái lan, Indonesia, Philippines. đã nghiên cứu sử dụng nguyên liệu tre, để tạo ra nhiều loại sản phẩm có thể sử dụng trong xây dựng như: Ván 6 ép lớp tre (Mat Plybamboo), mành tre (Curtain Plybamboo), ván dán tre (Plybamboo), ván khuôn bê tông xây dựng (Building concrete moldboard), ván dăm tre, ván sàn tre và các vật liệu composite tre - ximăng, tre - thạch cao.
Trong đó, Trung Quốc là một nước đứng đầu về tre (với 5 triệu ha rừng tre, chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích tre trên thế giới), đã sản xuất ra nhiều loại sản phẩm từ tre với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu tre. Tất cả chúng đều được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất ván sàn tre, sàn tàu xe, giàn giáo, vách ngăn…, và phần nào đó đã thay thế được gỗ, thép, nhựa…làm nguyên liệu trong trang trí nội thất cũng như trong xây dựng (hình 1. Ngoài ra, Nepal cũng đã hợp tác với Australia sản xuất thử ván nhân tạo từ tre. Một số nước khác ở Đông Nam Á và Châu Á cũng sản xuất ván ghép thanh tre.
Các nước ở Châu Phi và Châu Mỹ chưa có công bố gì về số liệu cũng như công nghệ sản xuất ván nhân tạo từ tre. Một số công trình nghiên cứu về vật liệu composite tre gỗ của các quốc gia trên thế giới như là: - Năm 1994, Wang Siqun của Trường Đại học Nam Kinh Trung Quốc đã “Nghiên cứu tính ổn định kích thước của ván tổng hợp sản xuất từ tre và gỗ sinh trưởng nhanh”. Tác giả đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của keo dán, chiều dày dăm, tỷ lệ dăm tre, cấu trúc ván, khối lượng thể tích, đặc tính của tre, độ axit của nguyên liệu đến tính chất ổn định của ván. Cũng vào năm 1994, Wang Siqun, Hua Yukun đã nghiên cứu công nghệ sản xuất ván dăm định hướng từ nguyên liệu tổng hợp tre và gỗ Bạch dương (Composite Oriented Stand Board, Composite - OSB), các tác giả đã rút ra kết luận là ván OSB tạo từ tre và gỗ Bạch Dương có độ bền rất cao; Khi tăng tỷ lệ dăm tre thì khả năng ổn định kích thước và cường độ của ván tăng lên, nhưng tỷ trọng của ván cũng tăng theo; Keo P-F (Phenol-Formaldehyde) và U-F (Urea-Formaldehyde) đều có thể sử dụng làm chất kết dính sản xuất ván OSB từ Tre và gỗ Bạch dương đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng của ván.
7 - Năm 2005, các nhà khoa học Zhang Qisheng, Jiang Shenxue, Chen Liheng của Trung Quốc, đã nghiên cứu tạo vật liệu composite làm ván sàn contener từ tre và gỗ mọc nhanh có tỷ trọng thấp. Các tác giả đã đưa ra 3 loại sản phẩm với các kết cấu khác nhau được kết hợp từ cót ép tre, ván ghép thanh tre, ván dăm và ván mỏng từ gỗ có tỷ trọng thấp. Kết quả là các sản phẩm tạo ra đều đáp ứng được tiêu chuẩn về tính chất cơ lý của vật liệu dùng trong công nghiệp chế tạo contener (khối lượng thể tích từ 0,75-0,8 g/cm3, độ bền uốn vuông góc là 30 MPa, độ bền uốn song song là 80 MPa, modul đàn hồi uốn vuông góc là 3.