Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên di truyền vật nuôi bản địa phong phú, trong đó các giống lợn nội mang nhiều đặc tính quý như chất lượng thịt thơm ngon, khả năng kháng bệnh cao, tiêu tốn ít chi phí thức ăn và thích nghi tốt với các điều kiện sinh thái khắc nghiệt. Tuy nhiên, trước áp lực cạnh tranh về năng suất từ các giống ngoại nhập cùng ảnh hưởng nặng nề từ các đợt dịch bệnh nguy hiểm như dịch tả lợn châu Phi, số lượng cá thể của nhiều giống lợn bản địa đã suy giảm nghiêm trọng, dẫn đến nguy cơ xói mòn hoặc mất nguồn gen. Trong số đó, giống lợn Kiềng Sắt đã được xếp vào danh mục giống vật nuôi cần bảo tồn theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ.

Bảo tồn lạnh tinh trùng kết hợp với công nghệ tạo phôi trong ống nghiệm (in vitro) và cấy chuyển phôi là giải pháp khoa học then chốt nhằm lưu giữ lâu dài nguồn vật liệu di truyền và tái tạo đàn giống quý. Mặc dù quy trình tạo phôi in vitro từ tinh trùng đông lạnh đã được chuẩn hóa trên các giống lợn ngoại như Landrace, Large White hay Duroc, các nghiên cứu trên lợn bản địa Việt Nam còn rất hạn chế. Phần lớn các công bố trước đây chỉ tập trung đánh giá tinh trùng thu nhận từ mào tinh hoàn lợn Bản sau mổ thịt, trong khi dữ liệu thực nghiệm về tạo phôi từ nguồn tinh dịch thu nhận qua xuất tinh tự nhiên của lợn Kiềng Sắt đông lạnh gần như chưa có.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Mỹ Duyên (Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thực hiện tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào động vật – Viện Chăn nuôi từ tháng 02/2022 đến tháng 08/2022) được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn trên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục đích: Tạo nguồn phôi lợn in vitro từ tinh trùng lợn đực Kiềng Sắt đông lạnh làm nguyên liệu phục vụ cho các nghiên cứu về tinh trùng và phôi lợn nội.
  2. Yêu cầu/Nhiệm vụ cụ thể:
    • Tạo được phôi nang lợn in vitro từ tinh trùng lợn đực Kiềng Sắt đông lạnh kết hợp với tế bào trứng lợn thu nhận từ buồng trứng lò mổ.
    • Đánh giá chất lượng và số lượng tế bào của phôi nang lợn in vitro thu được.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tinh trùng lợn đực Kiềng Sắt đông lạnh (thu bằng phương pháp xuất tinh) và tế bào trứng thu từ buồng trứng lợn Landrace lò mổ.
    • Không gian thực hiện: Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ tế bào động vật – Viện Chăn nuôi; nguồn buồng trứng thu tại các lò mổ địa phương khu vực Hưng Yên và Đông Anh (Hà Nội).
    • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2022 đến tháng 08/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên cơ sở sinh lý học sinh sản động vật có vú, bao gồm các quá trình: sự tạo giao tử cái và giảm phân của noãn bào qua các giai đoạn nang trứng (sơ cấp, thứ cấp, nang có hốc Graaf); quá trình thành thục nhân (từ giai đoạn túi mầm GV đến trung kỳ II - Metaphase II giải phóng thể cực thứ nhất) và thành thục tế bào chất dưới tác động của gonadotropin (eCG, hCG, cAMP, EGF); cấu trúc và phản ứng thể đỉnh của tinh trùng; cùng các cơ chế thụ tinh in vitro (IVF) và nuôi cấy phôi in vitro (IVC) đến giai đoạn phôi dâu và phôi nang.

Tác giả đã áp dụng hệ thống phương pháp thực nghiệm tế bào động vật chuyên sâu theo các quy trình chuẩn hóa:

  • Thu thập và xử lý buồng trứng: Buồng trứng lợn Landrace được thu ngay sau khi giết mổ, rửa 3 lần bằng dung dịch NaCl 0,9% có bổ sung 100 IU/ml penicillin và 1000 µg/ml streptomycin, bảo quản trong bình ổn nhiệt 38°C và vận chuyển về phòng thí nghiệm trong 2-3 giờ.
  • Thu và phân loại tế bào trứng: Sử dụng phương pháp cắt lát (slicing) bề mặt buồng trứng để rạch các nang có đường kính 3-6 mm. Tế bào trứng được tìm dưới kính hiển vi soi nổi và phân loại theo tiêu chuẩn Goodhand và cộng sự: Loại A (>4 lớp tế bào cumulus liên kết chặt, tế bào chất đồng nhất); Loại B (≥2 lớp tế bào cumulus); Loại C (mất một phần cumulus); Loại D (trần, không có cumulus). Nghiên cứu chỉ chọn trứng loại A và B để làm thí nghiệm.
  • Nuôi thành thục in vitro (IVM): Thực hiện theo quy trình Kikuchi và cộng sự (2002) cải biến qua 2 giai đoạn:
    • Giai đoạn IVM1 (22-24 giờ): Môi trường POM bổ sung 1 mM dbcAMP, 10 IU/ml eCG, 10 IU/ml hCG và EGF.
    • Giai đoạn IVM2 (22-24 giờ tiếp theo): Môi trường POM bổ sung 10 IU/ml eCG, 10 IU/ml hCG và EGF (không có dbcAMP). Điều kiện nuôi: tủ vô trùng 5% CO₂, 38,5°C, độ ẩm bão hòa dưới lớp dầu khoáng Wako. Đánh giá tỷ lệ sống và thành thục dựa trên sự hình thành thể cực thứ nhất sau khi xử lý loại cumulus bằng Hyaluronidase.
  • Thụ tinh in vitro (IVF): Tế bào trứng sau khi nuôi thành thục được loại bỏ bớt cumulus bằng hyaluronidase 0,1% (giữ lại 1 lớp tế bào quanh màng trong suốt). Môi trường thụ tinh là Pig-FM (Suzuki và cộng sự, 2002) chứa NaCl, KCl, NaHCO₃, NaH₂PO₄, MgSO₄, sodium lactate, HEPES, CaCl₂, sodium pyruvate, caffeine và 5 mg/ml BSA. Tinh trùng Kiềng Sắt đông lạnh được giải đông ở 37°C, rửa bằng môi trường M199 (pH 7,8), ly tâm ở 580 × g trong 2 phút. Chọn mẫu có hoạt lực vận động ≥30%, hiệu chỉnh mật độ thụ tinh đạt 1 × 10⁶ tinh trùng/ml. Thời gian đồng nuôi cấy trứng và tinh trùng là 6 giờ tại 38,5°C, 5% CO₂.
  • Nuôi cấy phôi in vitro (IVC): Sau IVF, hợp tử được loại bỏ tinh trùng thừa và tế bào cumulus bằng phương pháp cơ học, chuyển vào đĩa 4 giếng chứa môi trường PZM3 (bổ sung 10% huyết thanh thai bê - FCS vào cuối ngày 4 hoặc ngày 5), nuôi ở 38,5°C, 5% CO₂, 5% O₂ và độ ẩm bão hòa.
  • Nhuộm nhân đánh giá chất lượng phôi nang: Phôi nang ở ngày thứ 7 được cố định và nhuộm huỳnh quang bằng thuốc nhuộm Hoechst 33342 (dung dịch gốc 250 µg/ml trong ethanol tuyệt đối), rửa qua PBS + 0,3% PVP và glycerol, sau đó quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang để đếm tổng số tế bào/phôi.
  • Xử lý số liệu: Thống kê và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng nội dung nghiên cứu

Khóa luận được triển khai qua 3 nội dung thực nghiệm chính:

Đánh giá chất lượng tế bào trứng lợn Landrace thu từ buồng trứng lợn ở lò mổ

Tác giả đã thực hiện 6 đợt thí nghiệm cắt lát trên tổng số 123 buồng trứng đạt tiêu chuẩn thu từ lò mổ khu vực Hưng Yên và Đông Anh. Kết quả thu nhận và phân loại tế bào trứng được tổng hợp chi tiết:

Lần TN Số buồng trứng (chiếc) Tổng số trứng thu được Số trứng TB / buồng trứng Số trứng loại A, B Số trứng loại A, B / buồng trứng Tỷ lệ trứng loại A, B (%)
1 18 342 19,00 264 14,67 77,20
2 21 370 17,60 315 15,00 85,14
3 20 380 19,00 311 15,55 81,84
4 24 399 16,63 360 15,00 90,23
5 16 291 18,20 249 15,56 85,57
6 24 456 19,00 345 14,40 75,66
Tổng 123 2.238 18,20 1.844 14,99 82,39

Tỷ lệ thu nhận tế bào trứng đạt tiêu chuẩn (loại A, B) dao động từ 75,66% đến 90,23%. Số lượng trứng loại A, B trung bình đạt 14,40 - 15,56 trứng/buồng trứng, tương đồng với công bố của Nguyễn Thị Hương (2009) là 15,43 trứng/buồng trứng, đáp ứng yêu cầu nguyên liệu cho các bước nuôi cấy tiếp theo.

Đánh giá khả năng thành thục in vitro của tế bào trứng lợn Landrace thu từ buồng trứng lò mổ

Tổng số 1.844 tế bào trứng loại A và B đã được đưa vào hệ thống nuôi IVM hai bước (IVM1 và IVM2). Khả năng sống và tỷ lệ thành thục (dựa trên sự xuất hiện của thể cực thứ nhất) được thể hiện qua bảng sau:

Lần TN Số tế bào trứng nuôi Số trứng sống sau nuôi Tỷ lệ trứng sống (%) Số trứng thành thục (có PB1) Tỷ lệ thành thục (%)
1 264 187 70,83 154 58,33
2 315 298 94,60 221 70,16
3 311 274 88,10 194 62,38
4 360 264 73,33 212 58,89
5 249 204 81,93 160 64,26
6 345 282 81,74 207 60,00
Tổng 1.844 1.509 81,76 1.148 62,34

Tỷ lệ tế bào trứng sống trung bình sau 44-48 giờ nuôi đạt 81,76% và tỷ lệ trứng đạt thành thục nhân giải phóng thể cực thứ nhất đạt 62,34%. Tác giả giải thích tỷ lệ thành thục này thấp hơn so với một số nghiên cứu trước (như Mariana và cs., 2015 đạt >90%; Nguyễn Thị Thoa và cs., 2009 đạt >93%) do đề tài sử dụng kết hợp cả trứng loại B (có lớp cumulus mỏng hơn, từ 2 lớp) và thời gian bảo quản, vận chuyển buồng trứng kéo dài 4-5 tiếng trước khi tách tế bào.

Đánh giá khả năng tạo phôi lợn in vitro từ tinh trùng lợn đực Kiềng Sắt đông lạnh

Nội dung này được chia thành hai bước đánh giá cụ thể:

Đánh giá khả năng xâm nhập vào tế bào trứng của tinh trùng tại thời điểm 10 giờ sau IVF

Từ 1.148 trứng thành thục, tác giả tiến hành lấy mẫu 114 trứng sau thụ tinh 10 giờ để kiểm tra sự hình thành tiền nhân dưới kính hiển vi:

Lần TN Số trứng thành thục làm IVF Số phôi kiểm tra Số phôi có tinh trùng xâm nhập [n (%)] Phôi có 2 tiền nhân (đơn tinh trùng) [n (%)] Phôi có >2 tiền nhân (đa tinh trùng) [n (%)]
1 154 15 7 (46,67%) 5 (33,33%) 2 (13,33%)
2 221 23 14 (60,87%) 8 (34,78%) 6 (26,09%)
3 194 19 13 (68,42%) 7 (36,84%) 6 (31,58%)
4 212 21 11 (52,38%) 10 (47,62%) 1 (4,76%)
5 160 16 9 (56,25%) 6 (37,50%) 3 (18,75%)
6 207 20 15 (75,00%) 11 (55,00%) 4 (20,00%)
Tổng 1.148 114 69 (60,52%) 47 (41,22%) 22 (19,29%)

Kết quả chỉ ra tỷ lệ xâm nhập tổng số đạt 60,52%, trong đó tỷ lệ thụ tinh bình thường (hình thành 2 tiền nhân) đạt 41,22% và tỷ lệ thụ tinh đa tinh trùng (>2 tiền nhân) là 19,29%. So với nghiên cứu của Nguyễn Việt Linh và cộng sự (2018) trên tinh trùng mào tinh hoàn lợn Bản (tỷ lệ xâm nhập 25,8%, tỷ lệ 2 tiền nhân 61,4%), tinh trùng Kiềng Sắt thu qua xuất tinh đông lạnh có khả năng xâm nhập cao hơn nhưng tỷ lệ đa tinh trùng cũng cao hơn.

Đánh giá khả năng phân chia và phát triển đến phôi nang trong môi trường IVC

Tổng số 1.034 hợp tử giả định sau IVF được nuôi cấy trong môi trường PZM3 bổ sung 10% FCS ở giai đoạn ngày 4-5. Sự phân chia phôi được ghi nhận ở ngày thứ 2, tỷ lệ hình thành phôi nang ghi nhận ở ngày thứ 7 và tổng số tế bào/phôi nang được xác định qua nhuộm Hoechst 33342:

Lần TN Số phôi đưa vào IVC Phôi phân chia ngày 2 [n (%)] Phôi nang ngày 7 [n (%)] Số tế bào TB / phôi nang (tế bào)
1 139 80 (57,55%) 25 (17,98%) 49,98
2 198 122 (61,61%) 36 (18,18%) 51,25
3 175 102 (58,28%) 33 (18,86%) 50,02
4 191 121 (63,35%) 42 (21,99%) 53,01
5 144 94 (65,28%) 26 (18,06%) 48,89
6 187 115 (61,49%) 34 (18,18%) 49,31
Tổng 1.034 634 (61,13%) 196 (18,95%) 50,41

Tổng cộng đã tạo ra 196 phôi nang đạt tỷ lệ 18,95% (tính trên tổng số phôi nuôi cấy) với tỷ lệ phân chia đạt 61,13%. Chất lượng phôi nang được đánh giá thông qua số lượng tế bào đạt trung bình 50,41 tế bào/phôi nang (dao động từ 48,89 đến 53,01 tế bào), phản ánh phôi có tiềm năng phát triển tốt.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống kết quả định lượng cụ thể:

    • Thu nhận từ 123 buồng trứng lò mổ đạt 2.238 trứng; chọn được 1.844 trứng loại A và B (tỷ lệ 82,39%), trung bình đạt 14,99 trứng đạt chuẩn/buồng trứng.
    • Tỷ lệ tế bào trứng sống và thành thục in vitro sau 44-48 giờ nuôi cấy trong môi trường POM bổ sung EGF và hormone lần lượt đạt 81,76% và 62,34%.
    • Tỷ lệ tinh trùng Kiềng Sắt đông lạnh xâm nhập vào trứng sau 10 giờ IVF đạt 60,52%; trong đó tỷ lệ tạo hợp tử bình thường (2 tiền nhân) đạt 41,22% và tỷ lệ đa tinh trùng là 19,29%.
    • Tỷ lệ phôi phân chia ở ngày thứ 2 đạt 61,13% (634/1.034 phôi); tỷ lệ phát triển thành phôi nang ở ngày thứ 7 đạt 18,95% (196/1.034 phôi).
    • Chất lượng phôi nang đạt mức trung bình 50,41 tế bào/phôi.
  • Đề xuất kỹ thuật của tác giả:

    • Áp dụng phương pháp cắt lát (slicing) trên nang trứng kích thước 3-6 mm để tối ưu hóa lượng trứng thu nhận từ buồng trứng phụ phẩm lò mổ.
    • Sử dụng hệ thống môi trường POM bổ sung EGF và dbcAMP ở pha đầu giúp cải thiện nồng độ glutathione nội bào (GSH) và đồng bộ hóa thành thục nhân - tế bào chất.
    • Loại bỏ bớt tế bào cumulus bằng hyaluronidase 0,1% nhưng duy trì lại 1 lớp tế bào quanh màng zona pellucida trước khi IVF nhằm tăng khả năng thâm nhập của tinh trùng và hạn chế rào cản cơ học.
    • Bổ sung 10% huyết thanh thai bê (FCS) vào môi trường PZM3 vào ngày thứ 4 hoặc 5 của quá trình nuôi cấy phôi để cung cấp dưỡng chất cần thiết cho giai đoạn phôi dâu chuyển tiếp sang phôi nang giãn nở.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn:

    • Đây là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam công bố dữ liệu tạo phôi lợn in vitro thành công từ nguồn tinh trùng lợn Kiềng Sắt (giống bản địa quý hiếm thuộc diện cần bảo tồn) được thu nhận qua xuất tinh và bảo quản đông lạnh.
    • Kết quả chứng minh khả năng thụ tinh và tiềm năng phát triển phôi nang của tinh trùng lợn nội đông lạnh, cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc xây dựng ngân hàng gen và ứng dụng công nghệ phôi trong bảo tồn vật nuôi bản địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế được ghi nhận từ văn bản:

    • Nguồn tế bào trứng phụ thuộc vào buồng trứng thu nhận từ lò mổ; thời gian vận chuyển và xử lý ban đầu kéo dài (4-5 tiếng) làm giảm tỷ lệ sống và tỷ lệ thành thục in vitro so với điều kiện tối ưu.
    • Hiện tượng thụ tinh đa tinh trùng vẫn ở mức đáng kể (19,29%), làm giảm hiệu suất tạo hợp tử bình thường mang 2 tiền nhân.
    • Nghiên cứu chỉ dừng lại ở bước đánh giá hình thái, tỷ lệ tạo phôi nang và đếm số tế bào phôi bằng nhuộm huỳnh quang; chưa thực hiện cấy chuyển phôi vào lợn nhận để đánh giá khả năng đậu thai và sinh lợn con.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Nghiên cứu tối ưu hóa nồng độ tinh trùng và thời gian đồng nuôi cấy trong bước IVF để hạn chế hiện tượng thụ tinh đa tinh trùng.
    • Tiếp tục hoàn thiện môi trường nuôi cấy IVM/IVC nhằm nâng cao tỷ lệ thành thục noãn bào và tỷ lệ phôi nang.
    • Ứng dụng nguồn phôi in vitro tạo ra để thực hiện thử nghiệm cấy chuyển phôi trên lợn nái nhận, hướng tới việc tạo ra cá thể lợn Kiềng Sắt từ vật liệu di truyền bảo quản lạnh.

Giá trị tham khảo và đối tượng thụ hưởng

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:

  • Sinh viên, học viên và nghiên cứu viên: Thuộc các chuyên ngành Công nghệ sinh học, Công nghệ tế bào động vật, Thú y, Chăn nuôi đang thực hiện các đề tài về công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART), thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), bảo tồn nguồn gen động vật.
  • Nội dung kỹ thuật hữu ích:
    • Quy trình chi tiết thu nhận và phân loại tế bào trứng từ buồng trứng lò mổ.
    • Công thức môi trường và quy trình nuôi thành thục 2 bước (IVM1/IVM2) với hệ POM.
    • Kỹ thuật giải đông, hoạt hóa tinh trùng lợn đông lạnh và quy trình nhuộm nhân phôi nang bằng Hoechst 33342.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng nguồn tế bào trứng và tinh trùng từ những giống lợn nào?
Nghiên cứu sử dụng tế bào trứng thu nhận từ buồng trứng lợn ngoại Landrace tại các lò mổ địa phương (Hưng Yên, Đông Anh) và nguồn tinh trùng đông lạnh thu nhận qua phương pháp xuất tinh của lợn đực bản địa Kiềng Sắt.

2. Môi trường nào được sử dụng cho quá trình nuôi thành thục trứng và nuôi cấy phôi trong nghiên cứu?
Quá trình nuôi thành thục trứng (IVM) sử dụng môi trường POM bổ sung EGF, hormone (eCG, hCG) và dbcAMP (ở ngày 1); quá trình thụ tinh (IVF) sử dụng môi trường Pig-FM; và quá trình nuôi cấy phôi (IVC) sử dụng môi trường PZM3 có bổ sung 10% huyết thanh thai bê (FCS) ở ngày 4-5.

3. Tiêu chí nào được dùng để xác định tế bào trứng đã thành thục in vitro và phôi đã thụ tinh bình thường?
Tế bào trứng thành thục được xác định dựa trên sự xuất hiện của thể cực thứ nhất (first polar body). Trứng thụ tinh bình thường (đơn tinh trùng) được xác định tại thời điểm 10 giờ sau IVF khi quan sát thấy tế bào trứng xuất hiện 2 tiền nhân.

4. Hiệu suất tạo phôi nang và tổng số tế bào trung bình trên mỗi phôi nang đạt được là bao nhiêu?
Sau 7 ngày nuôi cấy trong môi trường IVC, tỷ lệ tạo phôi nang đạt 18,95% (196 phôi nang trên 1.034 phôi đưa vào nuôi cấy). Chất lượng phôi nang đánh giá qua nhuộm huỳnh quang Hoechst 33342 đạt trung bình 50,41 tế bào/phôi.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Mỹ Duyên đã thiết lập và thực hiện thành công quy trình tạo phôi lợn in vitro từ nguồn tinh trùng lợn Kiềng Sắt đông lạnh kết hợp với noãn bào thu từ lò mổ. Đề tài đạt tỷ lệ thành thục trứng 62,34%, tỷ lệ xâm nhập tinh trùng 60,52%, tỷ lệ phân chia 61,13% và tỷ lệ tạo phôi nang 18,95% với chất lượng trung bình 50,41 tế bào/phôi. Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho công nghệ phôi trên lợn nội và mở ra triển vọng ứng dụng trong công tác bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa quý hiếm tại Việt Nam.