MỞ ĐẦU Interleukin-6 người (IL-6) là một cytokin đa chức năng có tác động sinh học rộng, tham gia điều hòa nhiều quá trình bao gồm các đáp ứng viêm cấp tại gan, nhiễm trùng máu, viêm khớp dạng thấp… Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều trị hướng đích nhắm đến tác động trên IL-6 cho hiệu quả tốt hơn so với phương pháp thường quy. Gần đây, IL-6 cũng được chứng minh là một mục tiêu tiềm năng trong điều trị ung thư. Cytokin này giữ vai trò quan trọng trong chức năng sinh học của hệ thống miễn dịch, tủy xương và hệ thần kinh trung ương. Nồng độ IL-6 tăng cao trong bệnh lý tim mạch như xơ vữa động mạch.
Tất cả những phát hiện trên cho thấy IL-6 liên quan mật thiết đến phản ứng miễn dịch bảo vệ chống lại nhiều loại bệnh liên quan [1]. Mục tiêu sản xuất được protein tái tổ hợp IL-6 người có chức năng sinh học với số lượng lớn để phục vụ các nghiên cứu trên protein này là cần thiết, bởi vì chiết xuất từ các mô của con người khó khăn và sản lượng protein đạt được rất thấp [38]. Nhiều nghiên cứu tạo nguồn IL-6 tái tổ hợp trên Escherichia coli được thực hiện nhưng kết quả không như mong đợi. Đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra được quy trình tạo nguồn IL-6 hoàn chỉnh, ổn định về năng suất, hoạt tính và giá trị kinh tế.
Bên cạnh đó, hướng thiết kế cấu trúc phân tử nhỏ ức chế hoạt tính IL-6 đang được quan tâm trong những năm gần đây. Điển hình như, nghiên cứu của nhóm tác giả Thái Khắc Minh, Trần Quế Hương, Lê Minh Trí đã tiến hành sàng lọc được các cấu trúc phân tử nhỏ có khả năng ức chế hoạt tính IL-6 trong điều trị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, khó khăn của nhóm nghiên cứu gặp phải trong thử nghiệm đánh giá in vitro là nguồn IL-6 có giá thành rất cao và không đủ cung ứng cho thử nghiệm. Tại Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có báo cáo nghiên cứu tạo nguồn IL-6 người được thực hiện.
Với mong muốn tự tạo nguồn IL-6 người tái tổ hợp sẵn có phục vụ cho công tác nghiên cứu và thử nghiệm thuốc, đề tài “Nghiên cứu tạo Interleukin 6 người tái tổ hợp trên Escherichia coli ” được tiến hành với những mục tiêu cụ thể như sau:. 2 - Thiết kế vector biểu hiện gen IL-6 người có gắn His-SUMO tag và sử dụng tối ưu hoá codon để biểu hiện trên E. coli mang vector biểu hiện IL-6 tái tổ hợp. - Khảo sát các điều kiện biểu hiện gen IL-6 để thu protein tái tổ hợp.
- Tinh chế protein IL-6 tái tổ hợp. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về Interleukin Interleukin (IL) là những cytokin phân tử nhỏ có hoạt tính cao và có chức năng khác nhau. Hầu hết IL tác động qua thụ thể cytokin và hoạt hoá lộ trình tín hiệu JAK/STAT [12]. Cytokin đóng một vai trò quan trọng, là chất trung gian giữa các tế bào, chỉ với một lượng picomol cytokin cũng có thể gây ra các biến đổi lớn trong chuyển hóa tế bào, bao gồm: • Monokin là cytokin được sản xuất bởi các tế bào thực bào đơn nhân • Lymphokin là cytokin được sản xuất bởi tế bào lympho được hoạt hóa, đặc biệt là các tế bào T-helper • Interleukin là cytokin có vai trò trung gian giữa các bạch cầu • Chemokin là một phân tử nhỏ chủ yếu chịu trách nhiệm cho việc di chuyển bạch cầu Không giống như hormon, cytokin không được lưu trữ như các protein biểu hiện khác, cytokin được sản xuất nhanh chóng trong phản ứng miễn dịch.
Cấu trúc cytokin ổn định nhờ cầu nối disulfid nội phân tử và glycosyl hoá tại vị trí N và/hoặc O. Các cytokin có thể truyền tín hiệu nội bào bằng cách gắn vào thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào với ái lực cao [19]. Cytokin có thể tác động lên các tế bào tiết ra chúng (autocrine), các tế bào lân cận (paracrine) hoặc các tế bào ở xa thông qua việc lưu thông (nội tiết). Các loại tế bào khác nhau sẽ tiết ra cùng một cytokin hoặc một cytokin sẽ có tác động trên nhiều loại tế bào khác nhau [56].
Nhiều tác dụng của cytokin đã được nghiên cứu như tiêu diệt vi khuẩn và hình thành miễn dịch, thu hút thực bào trong giai đoạn sớm của nhiễm trùng (các chemokin điển hình là IL-8), điều hòa quá trình miễn dịch, tham gia vào sự tăng trưởng của các tế bào tạo máu (IL-1 đến IL-38 trừ IL-8), tác động lên sự tăng trưởng và phát triển tế bào gốc, phân chia các tế bào nội môi [11]. Hiện nay, cytokin đang được sử dụng trên lâm sàng như những chất sửa đổi đáp ứng sinh học để điều trị các rối loạn khác nhau. 4 Các liệu pháp dựa trên cytokin đem lại tiềm năng về phương pháp điều trị mới cho bệnh ung thư, bệnh tự miễn và nhiều loại bệnh truyền nhiễm [13].1 Cấu trúc Interleukin-6 Gen IL-6 ở người được tác giả Hirano và cộng sự báo cáo vào năm 1986. IL- 6 là một polypeptid chứa 184 acid amin, nằm trên nhiễm sắc thể 7p21, bao gồm 5 exon và 4 intron, khối lượng phân tử khoảng 21-28 kDa.
Cấu trúc tinh thể của IL-6 có bốn chuỗi xoắn chính tương tự như các cytokin khác trong cùng phân họ. Trong đó chuỗi xoắn A và B chạy song song cùng hướng, chuỗi xoắn C và D chạy song song theo hướng ngược lại. Liên kết các vòng xoắn trong sự sắp xếp này được thực hiện bằng một vòng dài nối các vòng xoắn A và B, một vòng ngắn giữa B và C, cuối cùng là một kết nối dài thứ hai giữa C và chuỗi xoắn D (Hình 1. Cấu trúc Interleukin-6 Nguồn: Somers W và cộng sự (1997) [48] 1.2 Tương tác giữa IL-6 và thụ thể, cơ chế truyền tín hiệu IL-6 truyền tín hiệu thông qua phức hợp thụ thể trên bề mặt tế bào, bao gồm thụ thể IL-6 (IL-6R) và thành phần truyền tín hiệu gp130 [3].
Thụ thể IL-6 (IL-6R) còn được gọi là CD126, IL-6R tồn tại ở hai dạng: dạng xuyên màng (mIL-6R) và dạng hòa tan (sIL-6R). Dạng sIL-6R được tạo ra từ mIL-6R bằng cách phân cắt mIL- 6R bởi ADAM 10/17 hoặc thông qua nối mRNA IL-6R thay thế. IL-6 truyền tín hiệu qua trung gian bằng cách tạo một phức hợp giữa IL-6, mIL-6R hoặc sIL-6R và phân tử truyền tín hiệu gp130. Do đó, tín hiệu IL-6 có thể được truyền theo ba cách, trong đó IL-6 liên kết với mIL-6R (classic signaling), với sIL-6R (trans-signaling), hoặc được kết hợp thông qua IL-6R đến gp130 trên các tế bào gần đó (trans-presentation).
Thực tế là gp130 được dẫn truyền ở khắp mọi nơi, dẫn đến các chức năng đa hướng của IL-6 (Hình 1. Các con đường tín hiệu khác nhau được kích thích bởi IL-6 Nguồn: Uciechowski P và cộng sự (2020) [53] Tín hiệu cổ điển và tín hiệu trans, IL-6 đều liên kết với IL-6R sau đó tạo phức hợp với gp130. Tuy nhiên tín hiệu cổ điển chỉ xảy ra ở những tế bào biểu hiện mIL- 6R đáp ứng với IL-6 như tế bào gan, bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân và tế bào T. Phức hợp IL-6/mIL-6R liên kết với gp130 dẫn đến sự đồng phân hóa gp130.
Tín hiệu trans diễn ra rộng hơn do thụ thể sIL-6 liên kết với IL-6 tạo phức hợp IL- 6/sIL-6R sau đó liên kết và kích hoạt gp130 cả trên tế bào không mang mIL-6R làm mở rộng các tế bào đích của IL-6 [53]. Tùy thuộc vào dạng IL-6R, hai con đường tín. 6 hiệu này sẽ tạo ra các hiệu ứng sinh học khác nhau. Tín hiệu cổ điển thúc đẩy các phản ứng chống viêm trong khi tín hiệu trans dẫn đến các phản ứng tiền viêm [25].
Trình diện trans được phát hiện gần đây trong thí nghiệm mô hình chuột cho bệnh đa xơ cứng ở người. Sau khi tương tác đặc hiệu với kháng nguyên của các tế bào tua (DC), IL-6 có vẻ đã liên kết nội bào với IL-6R trong DC và được vận chuyển đến màng sinh chất. Phức hợp IL-6/mIL-6R liên kết màng trên DC sau đó tương tác với gp130 trên tế bào T dẫn đến các tế bào Th17 kết hợp với yếu tố tăng trưởng biến đổi β2 (TGF-β2) tạo ra tế bào Th17 gây viêm (mạn tính) và ức chế tế bào Treg bởi IL- 27 [53].3 Vai trò của IL-6 và các bệnh lí liên quan Interleukin 6 được sản xuất bởi đại thực bào, tế bào B, tế bào T, bạch cầu mono và nhiều loại tế bào khác, là một cytokine đa chức năng có tác động sinh học trên nhiều loại tế bào đích khác nhau và đặc biệt gây ảnh hưởng trên hệ miễn dịch, sự tạo máu, phản ứng viêm và bệnh lý ung thư (Hình 1. IL6 và các bệnh lý liên quan Nguồn: Mauer J và cộng sự (2015) [33].
7 Việc sản xuất quá mức IL-6 và rối loạn điều hòa các con đường tín hiệu IL-6 có thể dẫn đến các bệnh lí liên quan. Covid 19 Các nghiên cứu cho thấy nồng độ IL-6 trong huyết thanh tăng lên đáng kể ở những bệnh nhân bị COVID-19 nặng. IL-6 kết hợp với IL-6Rα và gp130 để kích hoạt chuỗi tín hiệu xuôi dòng JAK/STAT3 [8], [53], [58]. Kết quả của quá trình này có thể dẫn đến vô số hiệu ứng sinh học: tác động lên nhiều tế bào mục tiêu khác nhau như tế bào T, tế bào B, tế bào nội mô mạch máu, bạch cầu đơn nhân và tế bào gan gây kích thích quá trình viêm [9], tăng tiểu cầu do sự biệt hóa megakaryocytes thành tiểu cầu, bất thường về quá trình đông máu do tăng sản xuất thrombin từ prothrombin [22], kích thích tế bào nội mô mạch máu sản xuất VEGF, điều hòa sự biểu hiện của thụ thể C5a trên tế bào nội mô mạch máu để tăng tính thấm thành mạch, dẫn đến hạ huyết áp, giảm oxy máu và phù ngoại vi [52].
Bệnh lí viêm Khi có sự tấn công của vi sinh vật lạ, quá trình viêm cấp tính diễn ra trong cơ thể đặc trưng như sốt, tăng bạch cầu hay những thay đổi trong việc sản xuất các loại protein [15]. IL-6 được xem là một trong các tín hiệu tiền viêm chính, nồng độ tăng rõ rệt và tương quan với mức độ nghiêm trọng cũng như tỷ lệ tử vong trong các bệnh nhiễm trùng nặng (nhiễm trùng huyết) [37]. Đồng thời, nồng độ IL-6 huyết thanh cũng tăng cao trong các bệnh lý viêm mạn tính.