ĐẶT VẤN ĐỀ Mụn trứng cá (MTC) là bệnh lý viêm mạn tính thường gặp của đơn vị nang lông tuyến bã, ảnh hưởng 35% đến hơn 90% thanh thiếu niên.1 Khoảng 80% dân số bị MTC ít nhất một lần trong đời và trong đó 20% bệnh nhân có MTC mức độ nặng, để lại nhiều di chứng như sẹo lồi, sẹo lõm, tăng sắc tố.2 MTC là một bệnh lý phổ biến, diễn tiến mạn tính, có nhiều đợt bùng phát, nếu không điều trị sớm hoặc điều trị không đúng cách có thể để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ, tâm lý và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhu cầu cao về mặt sức khỏe thể chất, tinh thần nên MTC là một đề tài rất được quan tâm. Cơ chế bệnh sinh của MTC liên quan đến sự kích thích tuyến bã nhờn do nội tiết tố androgen, rối loạn hệ vi sinh vật nang lông tuyến bã và phản ứng miễn dịch tế bào. Ngoài ra di truyền và chế độ ăn uống cũng có thể ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh.1 Gần đây, những tiến bộ trong nghiên cứu phân tử đã cho thấy rõ hơn vai trò của hiện tượng viêm trong sự hình thành mụn thông qua kích hoạt hệ thống miễn dịch bẩm sinh và vai trò của các cytokine trong cơ chế bệnh sinh của mụn trứng cá.
acnes xâm chiếm tuyến bã kích thích giải phóng IL-6, IL-1β và yếu tố hoại tử khối u (TNF-α). acnes kích hoạt hệ thống miễn dịch bẩm sinh thông qua các thụ thể Toll-like receptor (TLR) 2 và 4 có trên tế bào sừng và bạch cầu đơn nhân để giải phóng IL-1, IL-6, IL-8, IL-12, TNF-α và chất nền metalloproteinase.5 Ta thấy, IL-6 hoạt động như một cytokine gây viêm và gây tăng sừng ở ống tuyến bã. IL-6 có thể là một dấu hiệu hữu ích để theo dõi bệnh và là công cụ đánh giá khuynh hướng tổn thương da nghiêm trọng.6 Bên cạnh đó, một trong những di chứng nặng nề của mụn trứng cá là tình trạng sẹo (sẹo lồi, sẹo lõm và sẹo ph đại). IL-6 đã được nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong quá tr nh lành thương và tạo sẹo, can thiệp sớm lên quá trình viêm có thể hữu ích đối với những tình trạng mụn.
2 trứng cá nặng có nguy cơ để lại sẹo cao.7 Nghiên cứu của Ragab M và cộng sự (2019) cho thấy tỉ lệ đa hình IL-6 572 cao hơn ở bệnh nhân bị mụn trứng cá so với nhóm chứng.8 Một vài nghiên cứu gần đây cũng ghi nhận có sự gia tăng của nồng độ của IL-6 trong huyết thanh của bệnh nhân mụn trứng cá so với dân số khoẻ mạnh và nồng độ IL-6 tương quan với độ nặng của bệnh.5,6 Tuy nhiên số lượng các nghiên cứu còn hạn chế, chưa thống nhất và các nghiên cứu chưa điều tra về mối liên quan giữa nồng độ IL-6 trong huyết thanh và các đặc điểm lâm sàng cũng như di chứng sau mụn. Bên cạnh đó, IL-6 có độ nhạy cao trong việc phát hiện đáp ứng viêm, kỹ thuật lấy máu bệnh nhân và định lượng IL-6 trong huyết thanh dễ thực hiện, độ chính xác cao, không đòi hỏi nhiều máy móc phức tạp. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát nồng độ IL-6 ở bệnh nhân mụn trứng cá ở bệnh viện Đại học Y dược TPHCM. Từ đó, làm rõ vai trò quan trọng của IL-6 trong sinh bệnh học của mụn trứng cá và mối liên quan giữa nồng độ IL-6 huyết thanh và đặc điểm lâm sàng của bệnh cũng như di chứng sẹo mụn.
Trên cơ sở đó, chúng tôi mong muốn đề tài có thể góp phần làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này về việc sử dụng các thuốc kháng viêm điều trị mụn hoặc các thuốc có tác dụng ngăn chặn sự sản xuất IL-6 nhằm gia tăng hiệu quả điều trị mụn, nhất là mụn nặng, kháng trị và giảm di chứng sau mụn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU TỔNG QUÁT Khảo sát nồng độ interleukin 6 huyết thanh ở bệnh nhân mụn trứng cá thông thường so với nhóm chứng và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mụn trứng cá thông thường điều trị tại bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT 1. Khảo sát nồng độ interleukin 6 huyết thanh ở bệnh nhân mụn trứng cá thông thường điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và so với nhóm chứng 2. Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ interleukin 6 huyết thanh và một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mụn trứng cá thông thường điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về bệnh mụn trứng cá thông thƣờng 1. Giới thiệu Mụn trứng cá (MTC) là một bệnh lý viêm của đơn vị nang lông tuyến bã thường gặp nhất. Mặc dù mụn trứng cá thường gặp ở thanh thiếu niên nhưng nó không chỉ giới hạn ở nhóm tuổi này và có thể ảnh hưởng đến mọi độ tuổi khác nhau.
Hầu hết các trường hợp, bệnh biểu hiện bởi hàng loạt các sang thương đa dạng gồm nhân trứng cá, sẩn, mụn mủ, nốt, nang với các mức độ lan rộng và nghiêm trọng khác nhau. Trong khi mụn có thể tự giới hạn thì di chứng của bệnh như sẹo rỗ, sẹo ph đại, sẹo lồi lại có thể tồn tại suốt đời. Dịch tễ Mụn trứng cá (MTC) có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Ở trẻ sơ sinh, do hiện tượng nang lông tuyến bã bị kích thích bởi nội tiết tố của mẹ truyền cho con trong giai đoạn bào thai.
Mụn thường khởi phát vào đầu giai đoạn dậy thì, hầu hết các trường hợp đều thuộc giai đoạn giữa sau của quá trình dậy thì với khoảng hơn 85% thanh thiếu niên bị ảnh hưởng, sau đó, tần suất sẽ giảm dần theo tuổi. Tuy vậy, đặc biệt ở nữ, MTC có thể kéo dài cho đến những năm 30 tuổi hoặc thậm chí trễ hơn. MTC khởi phát ở nữ sớm hơn ở nam. Tuổi bắt đầu bị ở nữ từ 10 – 17 tuổi, ở nam từ 14 – 19 tuổi.
Tỉ lệ MTC mức độ nặng ở nam thường cao hơn ở nữ.9 MTC có liên quan đến tính chất gia đ nh.10,11 Về chủng tộc tần suất MTC ít hơn ở người châu Á và châu Phi so với người da trắng.2 Nghề nghiệp: Những người thường xuyên tiếp xúc với dầu nhờn, chất béo động vật, tia tử ngoại… có thể tăng khả năng bị MTC.2 Yếu tố tâm thần kinh: nhiều tác giả đã nhấn mạnh mối liên hệ giữa stress và MTC. Stress liên quan đến sự khởi phát muộn của MTC. 5 Yếu tố nội tiết: Một số bệnh nội tiết như cường giáp, hội chứng Cushing, buồng trứng đa nang, … có thể làm MTC nặng lên. Chế độ ăn: chế độ ăn nhiều đường, mỡ, không điều độ làm trầm trọng hơn t nh trạng MTC.
Việc tiêu thụ sữa cũng có mối liên quan đến MTC.12 Thuốc: một số thuốc có thể sinh mụn như androgen, thuốc ngừa thai, corticoid tại chỗ hoặc toàn thân, ACTH, thuốc chống lao (INH), thuốc chống động kinh, thuốc ức chế miễn dịch.2 Mỹ phẩm: xà bông, chất tẩy rửa, chất làm se da có thể lấy đi lượng chất bã dư thừa trên da, nhưng không làm thay đổi quá trình sản sinh chất bã. Việc dùng thường xuyên hoặc lạm dụng các chất này cũng như việc sử dụng mỹ phẩm không phù hợp có thể làm bít lỗ chân lông, tăng nguy cơ h nh thành sang thương viêm, làm nặng hơn t nh trạng MTC.13 Yếu tố thời tiết: sự gia tăng độ ẩm trên bề mặt da ở khí hậu nóng ẩm, hanh khô có thể làm gia tăng sự trầm trọng của bệnh MTC. Cơ chế bệnh sinh 1. Tăng sừng hoá nang lông tuyến bã Sự thay đổi hình thái sớm nhất và sự kiện nguyên phát gây nên MTC là tắc nghẽn nang ống tuyến bã nhờn tạo ra vi nhân mụn (microcomedo).
Cơ chế hình thành mụn trứng cá nhỏ vẫn chưa rõ ràng, nhưng bằng chứng hợp lý ủng hộ sự tăng sinh quá mức của tế bào sừng trong ống. Cơ chế này được xác định bằng phương pháp hóa mô miễn dịch bằng cách sử dụng kháng thể đơn dòng đối với Ki-67, một dấu hiệu các tế bào phân chia. Biểu hiện của keratin K16, một dấu hiệu của sự tăng sinh quá mức và sự biệt hóa bất thường, xảy ra ở các tế bào sừng ở ống tuyến bã của tổn thương MTC.15 Phần biểu mô phía trên của nang lông có dạng hình phễu trở nên dày sừng kết hợp với sự tăng kết dính của tế bào sừng tạo thành một nút chặn khiến đường ra của nang lông hẹp dần. Khối tích tụ trong nang lông bao gồm tế bào sừng, chất bã.
6 bị nghẽn lại và vi khuẩn gây dãn phía trên của nang lông tạo nên nhân mụn. Nguyên nhân kích thích tăng sinh tế bào sừng và tăng kết dính vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, sự thiếu hụt acid linoleic, tăng hoạt động của IL-1 alpha, và sự kích thích của androgen được cho là tác nhân gây tăng sừng hóa nang lông trong bệnh lý mụn trứng cá.16,17 Một số bằng chứng cho thấy một giả thuyết khác hình thành vi nhân mụn là do thành phần của lipid bã nhờn bị thay đổi và sự thay đổi đó có thể khiến các tế bào sừng của năng bã dính vào nhau nhiều hơn. Sự gia tăng axit béo tự do, squalene và squalene oxit và giảm axit linoleic bã nhờn đều có thể gây ra sự gắn kết bất thường của các tế bào trong nang bã nhờn.
Theo một giả thuyết khác, chứng tăng sừng ở nang bã nhờn là kết quả của sự thiếu hụt vitamin A cục bộ. Ngoài ra, androgen có thể có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sự tăng sinh ống tuyến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc kích thích tuyến bã nhờn. Gần đây hơn, các cytokine đã được chứng minh là có tác dụng kiểm soát quan trọng. Trong mô hình in vitro được sử dụng trong nghiên cứu này, mụn trứng cá được tạo ra dưới tác động của interleukin 1 (IL-1), và quá trình này có thể bị ức chế bằng cách bổ sung IL - 11, chất đối kháng thụ thể hệ thống.
Tăng tiết bã nhờn Bã nhờn, chất tiết giàu lipid của tuyến bã nhờn, có vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của MTC và cung cấp môi trường phát triển cho C. Sự mở rộng của tuyến bã nhờn và tăng sản xuất bã nhờn được kích thích bằng cách tăng sản xuất androgen tuyến thượng thận và tuyến sinh dục - một sự thay đổi trước khi bắt đầu dậy th .