Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam sở hữu bờ biển dài 3.260 km với tiềm năng kinh tế biển lớn. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn ngành thủy sản đạt 190.123 tỷ đồng, chiếm 3,43% GDP cả nước và 23,57% GDP ngành nông nghiệp, đạt mức tăng trưởng 6,46% so với năm 2017. Tổng sản lượng thủy sản cùng năm đạt 7,76 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 4,15 triệu tấn (chiếm 53,48%). Nghề nuôi cá lồng biển phát triển mạnh với nhiều đối tượng có giá trị kinh tế như cá chẽm (Lates calcarifer), cá hồng (Lutjanus spp.), cá giò (Rachycentron canadum) và cá mú (Epinephelus spp.), đạt sản lượng 32 nghìn tấn.
Tuy nhiên, dịch bệnh gây ra tổn thất lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) ước tính dịch bệnh làm ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu thiệt hại hơn 6 tỷ USD mỗi năm; tại Việt Nam, thiệt hại ước tính gần 1 tỷ USD mỗi năm. Bệnh hoại tử gan thận do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra đã được ghi nhận tại 14 quốc gia trên 48 loài cá khác nhau. Tỷ lệ cá chết do bệnh có thể lên đến 90%. Tại Việt Nam, dịch bệnh bùng phát hằng năm ở các vùng nuôi lồng bè thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Biện pháp kiểm soát bệnh hiện nay chủ yếu dựa vào việc sử dụng kháng sinh (như tetracycline, streptomycine, oxolinic acid). Việc sử dụng kháng sinh thường xuyên làm gia tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc, gây ức chế hệ miễn dịch của cá và để lại dư lượng trong sản phẩm thủy sản, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Sử dụng vắc-xin là giải pháp bền vững nhằm hạn chế kháng sinh. Tuy nhiên, các vắc-xin thương mại hiện có chủ yếu là vắc-xin bất hoạt, có thời gian bảo hộ tương đối ngắn. Cho đến thời điểm nghiên cứu, chưa có vắc-xin phòng bệnh do V. parahaemolyticus trên cá biển được cấp phép thương mại hóa. Hướng nghiên cứu tạo vắc-xin sống nhược độc từ các chủng vi khuẩn đột biến giảm độc lực cho tỷ lệ bảo hộ cao và thời gian bảo hộ kéo dài, nhưng việc tạo ra chủng vi khuẩn đột biến giảm độc lực ổn định, an toàn và có tính sinh miễn dịch vẫn là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Tạo được chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus đột biến giảm độc lực có khả năng gây đáp ứng miễn dịch cho cá, làm ứng viên cho nghiên cứu sản xuất vắc-xin sống nhược độc phòng bệnh hoại tử gan thận cho một số loài cá biển nuôi lồng có giá trị kinh tế.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tạo được vi khuẩn V. parahaemolyticus giảm độc lực từ chủng vi khuẩn gây bệnh hoại tử gan thận cá phân lập được bằng phương pháp xử lý với kháng sinh rifampicin.
- Xác định được cơ sở di truyền liên quan đến những biến đổi trình tự nucleotide trong các gen mã hóa protein độc tố (gen độc tố toxR, tdh, trh, tlh) và gen rpoB ở các dòng vi khuẩn Vibrio giảm độc lực.
- Đánh giá được khả năng bảo hộ của dòng vi khuẩn giảm độc lực đã tạo ra.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan thận cho một số loài cá biển và các dòng đột biến giảm độc lực thu được từ quá trình xử lý với rifampicin.
- Phạm vi không gian: Các chủng vi khuẩn được phân lập từ cá biển nuôi bị bệnh tại các vùng biển quanh đảo Cát Bà, vịnh Lan Hạ, Cát Hải (thành phố Hải Phòng); vùng biển Đồng Châu (tỉnh Thái Bình); và vùng biển Hải Thịnh (tỉnh Nam Định).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 11/2014 đến tháng 4/2019. Mẫu cá bệnh phục vụ phân lập được thu thập vào tháng 4/2015 và tháng 7, 8/2016.
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm Di truyền - Hóa sinh (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) và Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học (Viện Đại học Mở Hà Nội).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Nghiên cứu về vắc-xin bất hoạt:
- Trên thế giới: Wu và cs (2015) phối hợp ba chủng vi khuẩn Vibrio bất hoạt bảo hộ cá lù đù vàng lớn (Larimichthys crocea) đạt tỷ lệ bảo hộ tương đối (RPS) 88,9%. Clark và cs (2010) sử dụng formalin bất hoạt Vibrio thử nghiệm trên cá mú chấm cam (Epinephelus coioides) đạt RPS 77,6%. Zhang và cs (2017) bất hoạt V. parahaemolyticus bằng formalin 0,5% ở 4°C trong 4 giờ. Paria và cs (2018, 2019) nghiên cứu tế bào ma vi khuẩn (V. parahaemolyticus ghosts - VPGs) tạo ra bằng sodium hydroxide để kích thích cytokine IL-1β, IL-10 và tế bào đại thực bào.
- Tại Việt Nam: Phan Thị Vân và nhóm nghiên cứu (2013) sản xuất vắc-xin bất hoạt AquaVib (phối hợp V. alginolyticus, V. parahaemolyticus, V. harveyi với chất bổ trợ Montanide TMISA 760) phòng bệnh cho cá giò đạt tỷ lệ phòng bệnh trên 70%. Nguyễn Thị Thanh Thùy và cs (2013) tạo vắc-xin bất hoạt từ chủng V. parahaemolyticus V3 bằng formalin 0,5%, khi kết hợp chất bổ trợ FIA đạt RPS 87,5% sau 30 ngày nhưng giảm xuống 41,1% sau 60 ngày.
-
Nghiên cứu về vắc-xin tái tổ hợp và vắc-xin DNA:
- Mao và cs (2007) phân lập gen protein màng ngoài psuA và pvuA biểu hiện qua E. coli đạt RPS 50% - 75%. Mao và cs cùng Li và cs (2010, 2013, 2014) khảo sát các protein màng OmpK, OmpW, OmpV, OmpU, TolC, LptD, LamB và VP0802; trong đó vắc-xin DNA ompK bọc hạt nano chitosan đưa qua đường tiêu hóa đạt RPS 72,3% trên cá chẽm đen (Acanthopagrus schlegelii). Liu và cs (2011) tạo vắc-xin DNA từ gen serine protease mang đột biến Ser318Pro đạt RPS 96,11% trên cá bơn (Scophthalmus maximus).
-
Nghiên cứu tạo dòng giảm độc lực phục vụ vắc-xin sống nhược độc:
- Tác nhân vật lý: Lê Minh Hải và cs (2017) dùng tia UV tạo chủng Photobacterium damselae T4/3U6 giảm độc lực, đạt RPS 70 - 90% trên cá mú.
- Nuôi cấy liên tục và gây đột biến bằng hóa chất/kháng sinh: Swain và cs (2010) nuôi cấy liên tục Aeromonas hydrophila qua hơn 100 thế hệ; Li và cs (2015) tạo chủng Streptococcus agalactiae YM001 qua cấy truyền liên tục. Pridgeon và cs (2011, 2013) chọn lọc các dòng A. hydrophila, Edwardsiella tarda, Streptococcus iniae, S. agalactiae kháng novobiocin, ciprofloxacin và rifampicin. Wise và cs (2015) dùng rifamycin tạo chủng Edwardsiella ictaluri S97-773. Arias và cs (2003) nghiên cứu chủng E. ictaluri RE-33 kháng rifampicin dùng cho vắc-xin AQUAVAC-ESC. Vũ Thị Thanh Hương và cs (2011) tạo các chủng E. ictaluri giảm độc lực bằng rifampicin. Olivares-Fuster và cs (2011) tạo dòng Flavobacterium columnare 17-23 kháng rifampicin đạt RPS 90,9%. LaFrentz và cs (2008), Gliniewicz và cs (2015), Sudheesh và cs (2016) tạo chủng Flavobacterium psychrophilum 259-93B.17 và dòng 259-93B.17-ILM kháng rifampicin mang các đột biến trên gen rpoB (Ser492Phe). Đối với giống Vibrio, Yu và cs (2012) dùng rifampicin tạo chủng Vibrio anguillarum C312M và Vibrio harveyi T4DM giảm độc lực bảo hộ cho cá bơn Nhật Bản (Paralichthys olivaceus).
- Kỹ thuật công nghệ gen (knock-out gen): Liu và cs (2007) dùng transposon làm đột biến A. hydrophila J1; Temprano và cs (2005) xóa gen aroA ở Yersinia ruckeri; Locke và cs (2008), Wang và cs (2014) knock-out gen ở S. iniae; Xiao và cs (2011), Li và cs (2015) knock-out các gen aroC, esrB, esaC, purA ở E. tarda; Nho và cs (2017) knock-out gen ở E. ictaluri; Liu và cs (2018) xóa gen aroC ở V. anguillarum; Chen và cs (2018) knock-out gen acfA và gen hop ở Vibrio alginolyticus. Tại Việt Nam, kỹ thuật xóa gen được thực hiện bởi Trần Hạnh Triết và cs (2014), Lê Thượng Khởi và cs (2013), Nguyễn Trọng Bình và cs (2011), Trương Ngọc Thùy Liên và cs (2014) trên E. ictaluri và A. hydrophila.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù hướng nghiên cứu vắc-xin bất hoạt và vắc-xin DNA đã có một số kết quả, song vắc-xin bất hoạt duy trì thời gian bảo hộ ngắn, còn vắc-xin DNA có quy trình phức tạp và chi phí cao. Chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng phương pháp xử lý áp lực kháng sinh rifampicin để tạo dòng V. parahaemolyticus giảm độc lực làm ứng viên vắc-xin nhược độc cho cá biển. Luận án tập trung giải quyết việc tạo dòng đột biến giảm độc lực bằng rifampicin, phân tích cơ sở di truyền phân tử liên quan đến các đột biến trên các gen độc tố (toxR, tdh, trh, tlh) và gen rpoB, đồng thời kiểm chứng mức độ an toàn và hiệu quả bảo hộ kéo dài tới 6 tháng trên cá mú chấm cam (E. coioides).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Phân loại và đặc tính của Vibrio parahaemolyticus: Vi khuẩn Gram âm, hình que cong dấu phẩy, kích thước (0,5-0,8) x (1,4-2,4) µm, kỵ khí tùy ý, di động bằng tiên mao, ưa kiềm mặn (sinh trưởng tối ưu ở 3% NaCl, pH 7,8-8,6, nhiệt độ tối ưu 37°C). Hệ gen gồm 2 nhiễm sắc thể dạng vòng: nhiễm sắc thể I (3,2 - 3,3 Mb) và nhiễm sắc thể II (1,7 - 1,8 Mb).
- Hệ thống gen độc tố: Phản ứng tan huyết Kanagawa (KP) gây tan huyết beta trên thạch máu do các ngoại độc tố haemolysin. Ba gen mã hóa haemolysin chính gồm: gen tdh (thermostable direct haemolysin), gen trh (TDH-related haemolysin) và gen tlh (thermolabile haemolysin, enzyme phospholipase A2 có khung đọc mở 1254 bp mã hóa 417 amino acid). Gen điều hòa toxR kiểm soát độc lực và hệ thống bài tiết loại III (T3SS).
- Cơ chế kháng rifampicin và suy giảm độc lực: Rifampicin liên kết với tiểu đơn vị β của enzyme RNA polymerase (được mã hóa bởi gen rpoB dài 4.029 bp) tại vùng xác định kháng rifampicin (RRDR dài 81 bp, từ codon 507 đến 533). Các đột biến điểm trên gen rpoB làm thay đổi cấu trúc không gian của RNA polymerase, cản trở sự liên kết của rifampicin, đồng thời gây ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của các gen độc lực, dẫn đến hiện tượng suy giảm độc lực ở vi khuẩn.
- Miễn dịch học cá xương: Đánh giá miễn dịch dịch thể thông qua kháng thể đặc hiệu IgM (gồm chuỗi nặng 78 kDa và chuỗi nhẹ 27 kDa ở cá mú chấm cam). Hiệu quả bảo hộ của vắc-xin được xác định bằng chỉ số tỷ lệ bảo hộ tương đối (RPS - Relative Percent Survival) khi công cường độc với chủng vi khuẩn dại.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phân lập và nuôi cấy vi khuẩn: Sử dụng môi trường chọn lọc TCBS (Thiosulfate-Citrate-Bile-Salts-Sucrose), nhận diện khuẩn lạc màu xanh đậm, tròn đều, đường kính 2 - 3 mm. Giữ giống trên môi trường BHI bổ sung glycerol ở -80°C.
- Đánh giá hình thái, sinh hóa và tính kháng kháng sinh: Nhuộm Gram; kiểm tra di động trên LB bán lỏng; thử nghiệm phản ứng sinh catalase (sủi bọt với H2O2), oxidase, lên men KIA, sinh indol (thuốc thử Kovac), tan huyết trên thạch máu. Kháng sinh đồ thực hiện bằng phương pháp khuếch tán đĩa giấy trên thạch BHI agar đối với 5 loại kháng sinh.
- Phương pháp tạo dòng giảm độc lực: Nuôi cấy vi khuẩn dại trên môi trường BHI có bổ sung kháng sinh rifampicin với nồng độ tăng dần qua nhiều thế hệ để chọn lọc các dòng vi khuẩn kháng rifampicin.
- Đánh giá độc lực (LD50): Gây nhiễm thực nghiệm bằng đường tiêm dịch vi khuẩn trên cá ngựa vằn (Danio rerio, dài 3 - 3,5 cm), cá rô phi (Oreochromis niloticus, dài 6 - 6,5 cm) và cá mú chấm cam (Epinephelus coioides, dài 5,5 - 6 cm) để xác định giá trị liều gây chết 50% (LD50).
- Phương pháp sinh học phân tử:
- Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp chuẩn.
- Phản ứng PCR khuếch đại gen: Gen toxR sử dụng cặp mồi toxR-4/toxR-7 (~368 bp) và toxR2/toxR4 (~1000 bp); gen tlh sử dụng cặp mồi tlhF/tlhR (~450 bp) và cặp mồi tlh1/tlh3 (~1500 bp khuếch đại toàn bộ gen); gen rpoB sử dụng cặp mồi 1110F/CM32b (~984 bp). Kiểm tra sự có mặt của gen tdh và trh.
- Giải trình tự gen bằng máy giải trình tự tự động.
- Phân tích tin sinh học: Sử dụng công cụ BLAST đối chiếu trình tự trên cơ sở dữ liệu NCBI; mô hình hóa cấu trúc không gian 3D của protein TLH bằng phần mềm Phyre2.
- Đánh giá độ an toàn, tính ổn định và đáp ứng miễn dịch:
- Kiểm tra độ ổn định độc lực của dòng giảm độc lực qua các lần cấy truyền liên tục.
- Đánh giá độ an toàn trên cá mú chấm cam ở liều tiêm 100 µl nồng độ 10^5 CFU/ml.
- Đánh giá khả năng sinh kháng thể sau 15 ngày và 60 ngày tiêm vắc-xin.
- Đánh giá tỷ lệ bảo hộ RPS sau khi tiêm vắc-xin ở các mốc thời gian: 15 ngày, 30 ngày, 60 ngày, 90 ngày và 180 ngày (6 tháng).
- Nguồn mẫu và dữ liệu: Mẫu cá bệnh thu thập từ các cơ sở nuôi lồng tại Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định. Chủng vi khuẩn chuẩn đối chứng là V. parahaemolyticus VTCC 12233 từ Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học (Đại học Quốc gia Hà Nội). Động vật thử nghiệm do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I và Trung tâm Giống Thủy sản Hải Phòng cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Tổng quan tài liệu
Chương I tổng thuật chi tiết các cơ sở lý luận và kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tác giả hệ thống hóa đặc điểm sinh học của V. parahaemolyticus theo khóa phân loại Bergey (thuộc ngành Proteobacteria, lớp Gamma Proteobacteria, bộ Vibrionales, họ Vibrionaceae, chi Vibrio). Vi khuẩn có chu kỳ thế hệ ngắn từ 8 - 9 phút, phân bố rộng ở cửa sông và ven biển, mật độ tăng khi nhiệt độ nước vượt 15°C.
Chương này trình bày chi tiết về cấu trúc hệ gen hai nhiễm sắc thể vòng của các chủng V. parahaemolyticus FORC_14 (3.274 gen mã hóa protein, 1 plasmid 51.383 bp) và FORC_08 (3.909 ORFs trên NST I và 1.585 ORFs trên NST II). Các yếu tố độc lực được phân tích sâu: độc tố TDH (cấu trúc tetramer có lỗ trung tâm đường kính 23 Å, sâu 50 Å), TRH (gồm 189 amino acid, kích thước gen 570 nucleotide) và TLH (dài 1254 bp, mã hóa 417 amino acid, hoạt tính phospholipase A2 với 4 vị trí xúc tác bảo tồn Ser152, Gly203, Asn247, His392). Tác giả dẫn chứng tài liệu cho thấy tỷ lệ xuất hiện tự nhiên của gen tdh và trh rất thấp (chỉ từ 1 - 5% ở các chủng phân lập), trong khi gen tlh và toxR hiện diện phổ biến ở hầu hết các chủng vi khuẩn.
Về gen rpoB (kích thước 4.029 bp, mã hóa 1.342 amino acid), chương I phân tích chi tiết vùng RRDR dài 81 bp từ codon 507 đến 533, nơi xuất hiện các đột biến chủ yếu dẫn đến tính kháng rifampicin. Đồng thời, tác giả tổng thuật bệnh lý hoại tử gan thận trên cá biển, cơ chế miễn dịch dịch thể ở cá xương dựa trên kháng thể IgM, ưu nhược điểm của các phương thức đưa vắc-xin (tiêm, ngâm, ăn), phân loại 20 loại vắc-xin cho cá đã được cấp phép trên thế giới và phân tích thực trạng các hướng nghiên cứu tạo vắc-xin bất hoạt, DNA, tái tổ hợp và vắc-xin sống nhược độc trong nước và quốc tế.
| Loại vắc-xin cho cá được cấp phép trên thế giới |
Tác nhân đích |
Dạng vắc-xin |
Đối tượng cá sử dụng |
Khu vực cấp phép |
| Aeromonas salmonicida Bacterin |
A. salmonicida |
Bất hoạt |
Cá Koi, cá hồi |
Toàn cầu |
| Edwardsiella ictaluri Vaccine |
E. ictaluri |
Sống, giảm độc lực |
Cá da trơn |
Mỹ |
| Flavobacterium columnare Vaccine |
F. columnare |
Sống, giảm độc lực |
Cá trê, cá hồi, cá da trơn |
Mỹ |
| Listonella anguillarum Bacterin |
L. anguillarum |
Bất hoạt |
Cá hồi, cá chẽm, cá đuôi vàng |
Toàn cầu |
| Streptococcus agalactiae Vaccine |
S. agalactiae |
Bất hoạt |
Cá rô phi |
Châu Á |
| AquaVib (nghiên cứu tại Việt Nam) |
V. alginolyticus, V. parahaemolyticus, V. harveyi |
Bất hoạt nhũ dầu |
Cá giò |
Việt Nam |
Chương II: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương II mô tả cụ thể quy trình thu thập mẫu, vật liệu sinh học, trang thiết bị và các phương pháp thực nghiệm:
- Vật liệu: Các mẫu cá mú, cá hồng, cá bớp nghi mắc bệnh hoại tử gan thận thu thập tại Cát Bà, Lan Hạ, Cát Hải (Hải Phòng), Đồng Châu (Thái Bình), Hải Thịnh (Nam Định). Chủng vi khuẩn đối chứng V. parahaemolyticus VTCC 12233. Cá ngựa vằn (3 - 3,5 cm), cá rô phi (6 - 6,5 cm) và cá mú chấm cam (5,5 - 6 cm) khỏe mạnh, không nhiễm mầm bệnh.
- Phương pháp vi sinh: Phân lập vi khuẩn trên thạch TCBS ở 37°C trong 18 - 24 giờ. Quan sát khuẩn lạc, nhuộm Gram. Thử nghiệm sinh hóa: lên men đường glucose, mannitol, inositol, sucrose, arabinose, lactose; phản ứng KIA; thử nghiệm indol; thử catalase với H2O2; thử tính di động trên môi trường LB bán lỏng; kiểm tra tan huyết trên thạch máu cừu.
- Kháng sinh đồ: Đánh giá độ nhạy cảm của 11 chủng phân lập đối với 5 loại kháng sinh bằng đĩa giấy khuếch tán trên thạch BHI.
- Quy trình chọn lọc bằng rifampicin: Nuôi cấy các chủng vi khuẩn dại độc lực cao trên môi trường BHI bổ sung rifampicin với nồng độ tăng dần từng bước để thu nhận các dòng đột biến kháng kháng sinh.
- Phương pháp sinh học phân tử: Thiết kế mồi và tối ưu hóa phản ứng PCR khuếch đại gen toxR (cặp mồi toxR-4/toxR-7 cho sản phẩm 368 bp; cặp toxR2/toxR4 cho sản phẩm 1000 bp), gen tlh (cặp mồi tlhF/tlhR cho sản phẩm 450 bp; cặp tlh1/tlh3 cho sản phẩm 1500 bp), gen rpoB (cặp mồi 1110F/CM32b cho sản phẩm 984 bp). Tách chiết DNA, điện di gel agarose, tinh sạch sản phẩm PCR và giải trình tự Sanger.
- Phương pháp đánh giá độc lực và bảo hộ: Tiêm phúc mạc dịch vi khuẩn ở các nồng độ pha loãng bậc 10 để tính giá trị LD50 theo công thức Reed-Muench trên cá ngựa vằn, cá rô phi và cá mú chấm cam. Đánh giá tính ổn định độc lực của dòng đột biến qua các lần cấy truyền liên tục. Đánh giá đáp ứng miễn dịch (hiệu giá kháng thể) và xác định chỉ số bảo hộ RPS trên cá mú chấm cam sau công cường độc ở các khoảng thời gian 15, 30, 60, 90 và 180 ngày.
Chương III: Kết quả nghiên cứu
Chương III trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:
- Phân lập và định danh: Thu nhận các mẫu vi khuẩn từ cá bệnh. 11 chủng vi khuẩn phân lập thể hiện đặc điểm sinh hóa đặc trưng của V. parahaemolyticus: Gram âm, khuẩn lạc xanh tròn trên TCBS, dương tính với catalase, oxidase, indol, lên men glucose, di động; âm tính với phản ứng sinh H2S và không lên men lactose.
- Phân tích gen độc tố và kháng kháng sinh: Khảo sát kháng sinh đồ cho thấy mức độ kháng khác nhau của 11 chủng phân lập đối với 5 loại kháng sinh. Phân tích PCR xác nhận toàn bộ 11 chủng phân lập đều mang gen toxR và gen tlh, nhưng không phát hiện sự có mặt của hai gen tdh và trh.
- Đánh giá độc lực chủng dại: Thử nghiệm tiêm chủng phân lập LBT6 gây nhiễm trên cá mú chấm cam làm cá chết từ ngày thứ 3 và chết hàng loạt đến ngày thứ 9 với các bệnh tích xuất huyết nội tạng nghiêm trọng.
- Nhân bản và giải trình tự gen: Luận án nhân bản thành công sản phẩm PCR gen toxR (~368 bp và ~1000 bp), gen rpoB (~984 bp) và lần đầu tiên nhân bản trọn vẹn kích thước đầy đủ gen tlh (~1500 bp) của chủng LBT6. So sánh chuỗi trên NCBI qua BLAST xác nhận mức độ tương đồng cao với trình tự chuẩn.
- Tạo dòng giảm độc lực và xác định LD50: Từ các chủng dại A3.3, LBT6, B3.13, tác giả thu được các dòng đột biến kháng rifampicin. Thử nghiệm trên cá ngựa vằn và cá rô phi cho thấy giá trị LD50 của các dòng đột biến tăng vọt so với chủng dại ban đầu, chứng minh độc lực đã suy giảm rõ rệt.
- Biến đổi di truyền ở các dòng giảm độc lực:
- Trình tự gen toxR ở các dòng giảm độc lực không có sự thay đổi so với chủng dại.
- Gen tlh xuất hiện các đột biến nucleotide làm thay đổi cấu trúc không gian protein TLH. Phân tích mô hình 3D bằng Phyre2 cho thấy có biến đổi tại vùng xoắn alpha vị trí 250-252, ảnh hưởng đến hoạt tính phân giải lipid của enzyme.
- Đoạn trình tự 930 bp của gen rpoB ghi nhận các đột biến thay thế amino acid tại vùng RRDR và các vị trí lân cận ở các dòng vi khuẩn kháng rifampicin so với chủng dại.
- Tuyển chọn và đánh giá ứng viên L4650:
- Dòng đột biến L4650 (phát sinh từ chủng dại LBT6) biểu hiện ổn định về tính giảm độc lực qua các lần cấy truyền liên tục.
- Đường cong sinh trưởng của dòng L4650 tương đương với chủng dại LBT6.
- Độ an toàn: Cá mú chấm cam được tiêm dòng L4650 liều 100 µl nồng độ 10^5 CFU/ml đạt tỷ lệ sống sót 100%.
- Khả năng kích thích miễn dịch và bảo hộ: Cá mú tiêm L4650 tạo kháng thể đặc hiệu sau 15 ngày và 60 ngày. Kết quả thử thách công cường độc cho thấy tỷ lệ bảo hộ tương đối (RPS) đạt 96,91% - 100% sau 15 ngày tiêm chủng và duy trì ở mức cao 93,33% - 100% sau 6 tháng (180 ngày).
| Nhóm chỉ tiêu |
Chủng dại LBT6 |
Dòng đột biến giảm độc lực L4650 |
| Nguồn gốc / Phương thức tạo |
Phân lập từ cá bệnh tại Hải Phòng |
Xử lý chủng LBT6 bằng áp lực rifampicin |
| Tính kháng rifampicin |
Nhạy cảm |
Kháng rifampicin |
| Độc lực gây chết cá mú (10^5 CFU/ml) |
Gây chết cá từ ngày 3 đến ngày 9 |
Tỷ lệ sống sót đạt 100% |
| Gen độc tố toxR |
Dương tính (chuỗi không đổi) |
Dương tính (chuỗi tương đồng chủng dại) |
| Gen độc tố tlh (~1500 bp) |
Trình tự nguyên bản |
Đột biến nucleotide, biến đổi cấu trúc xoắn α 250-252 |
| Vùng gen rpoB (đoạn 930 bp) |
Trình tự chuẩn |
Xuất hiện đột biến thay thế amino acid |
| Tỷ lệ bảo hộ RPS sau 15 ngày |
Không áp dụng (chủng độc lực) |
96,91% - 100% |
| Tỷ lệ bảo hộ RPS sau 6 tháng |
Không áp dụng (chủng độc lực) |
93,33% - 100% |
Chương IV: Kết luận và kiến nghị
Chương IV tóm lược các kết luận khoa học rút ra từ công trình nghiên cứu và nêu các kiến nghị thực tiễn:
- Kết luận: Đã phân lập và xác định được đặc tính hình thái, sinh hóa, phân tử của các chủng V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan thận trên cá biển miền Bắc; các chủng mang gen toxR, tlh nhưng không mang gen tdh, trh. Đã tạo được các dòng vi khuẩn kháng rifampicin giảm độc lực; chứng minh được đột biến trên gen tlh và rpoB liên quan đến sự suy giảm độc lực; tuyển chọn được dòng đột biến L4650 có đặc tính sinh học ổn định, an toàn tuyệt đối ở liều 10^5 CFU/ml và tạo miễn dịch bảo hộ kéo dài 6 tháng trên cá mú chấm cam.
- Kiến nghị: Tiếp tục khảo sát hiệu lực bảo hộ của dòng vắc-xin L4650 ngoài môi trường thực địa lồng bè nuôi cá biển; đánh giá khả năng bảo hộ chéo của dòng L4650 đối với các loài cá biển kinh tế khác (cá giò, cá hồng); nghiên cứu tối ưu hóa quy trình nuôi cấy sinh khối và công nghệ bảo quản để phát triển thành vắc-xin nhược độc thương mại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận khoa học
- Cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu về đặc điểm hình thái, sinh hóa, độ nhạy cảm kháng sinh và các đặc tính phân tử của các chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan thận trên cá biển nuôi lồng tại một số vùng biển trọng điểm phía Bắc Việt Nam (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định).
- Lần đầu tiên nhân bản và xác định thành công trình tự kích thước đầy đủ của gen độc tố tlh (~1500 bp, mang khung đọc mở 1254 bp) ở vi khuẩn V. parahaemolyticus phân lập tại Việt Nam bằng cặp mồi tự thiết kế tlh1-tlh3.
- Xác lập cơ sở di truyền phân tử chứng minh mối liên quan giữa các đột biến thay thế amino acid trên gen rpoB và các biến đổi cấu trúc thứ cấp (vùng xoắn alpha 250-252) của enzyme haemolysin TLH với sự suy giảm độc lực ở các dòng vi khuẩn V. parahaemolyticus kháng rifampicin.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Tạo thành công dòng vi khuẩn đột biến giảm độc lực L4650 từ chủng dại LBT6 bằng kỹ thuật gây áp lực chọn lọc kháng sinh rifampicin.
- Dòng vi khuẩn L4650 biểu hiện tính ổn định về độc lực qua nhiều thế hệ cấy truyền và đảm bảo độ an toàn cao khi thử nghiệm trên cá mú chấm cam (Epinephelus coioides) với liều tiêm 100 µl nồng độ 10^5 CFU/ml cho tỷ lệ sống sót 100%.
- Dòng L4650 có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch sinh kháng thể mạnh ở cá mú chấm cam, mang lại tỷ lệ bảo hộ tương đối (RPS) từ 96,91% đến 100% sau 15 ngày tiêm chủng và duy trì hiệu quả bảo hộ kéo dài từ 93,33% đến 100% sau 6 tháng (180 ngày), là ứng viên phù hợp cho sản xuất vắc-xin sống nhược độc.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đưa dòng vi khuẩn L4650 vào các thử nghiệm tiếp theo ở quy mô lồng bè ngoài biển nhằm kiểm tra tính an toàn sinh học môi trường và hiệu quả phòng bệnh trong điều kiện tự nhiên.
- Thử nghiệm đánh giá khả năng bảo hộ chéo của dòng L4650 trên các loài cá biển nuôi lồng kinh tế khác như cá hồng (Lutjanus spp.) và cá giò (Rachycentron canadum).
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ lên men sản xuất sinh khối dòng L4650 và phát triển công thức đông khô hoặc phối chế tá dược nhằm kéo dài thời gian bảo quản chế phẩm vắc-xin sống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Địa bàn thu mẫu phân lập vi khuẩn tập trung chủ yếu tại một số vùng ven biển phía Bắc (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định) trong giai đoạn 2015 - 2016, chưa bao phủ toàn bộ các vùng nuôi cá biển trọng điểm ở miền Trung và miền Nam.
- Các thử nghiệm đánh giá độc lực, độ an toàn và hiệu lực bảo hộ của dòng ứng viên L4650 chủ yếu thực hiện trong điều kiện bể thí nghiệm có kiểm soát, chưa triển khai thử nghiệm trên hệ thống lồng nuôi ngoài biển mở.
- Đánh giá cơ sở di truyền phân tử mới tập trung phân tích đột biến trên các gen đích chọn lọc (toxR, tlh, rpoB), chưa tiến hành giải trình tự toàn bộ hệ gen (whole-genome sequencing) để rà soát toàn bộ các sai khác di truyền trên hai nhiễm sắc thể.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi thử nghiệm thực nghiệm dòng vắc-xin nhược độc L4650 tại các bè nuôi cá thương phẩm ngoài biển để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh (nhiệt độ, độ mặn, dòng chảy).
- Khảo sát đáp ứng miễn dịch bảo hộ của dòng L4650 trên các loài cá nuôi biển khác ngoài cá mú chấm cam.
- Giải trình tự toàn bộ hệ gen của chủng dại LBT6 và dòng đột biến L4650 nhằm lập bản đồ toàn diện các đột biến điểm phát sinh do áp lực chọn lọc của rifampicin.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Vi sinh vật học, Công nghệ sinh học, Bệnh học thủy sản và Nuôi trồng thủy sản có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ thuật thực nghiệm.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành thủy sản tham khảo quy trình phân lập, thiết kế mồi, giải trình tự gen vi khuẩn biển và mô hình hóa cấu trúc protein bằng tin sinh học.
- Các đơn vị sản xuất dược phẩm và sinh phẩm thú y thủy sản: Tiếp cận nguồn vật liệu sinh học (dòng vi khuẩn L4650) và quy trình chọn lọc vi khuẩn giảm độc lực phục vụ phát triển sản phẩm vắc-xin thương mại.
- Cơ quan quản lý và người nuôi thủy sản: Tham khảo các dữ liệu về đặc tính kháng thuốc của vi khuẩn Vibrio để xây dựng chiến lược phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, giảm thiểu lạm dụng kháng sinh.
Nội dung đáng tham khảo
- Quy trình chuẩn xử lý vi khuẩn gây bệnh bằng kháng sinh rifampicin để tạo dòng vi khuẩn nhược độc ổn định.
- Danh mục và thông số các cặp mồi khuếch đại phân tử gen toxR, gen rpoB và đặc biệt là cặp mồi khuếch đại toàn bộ gen độc tố tlh (~1500 bp).
- Phương pháp phối hợp giữa giải trình tự Sanger và phần mềm Phyre2 trong phân tích biến đổi cấu trúc không gian 3D của protein độc tố.
- Mô hình bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu quả bảo hộ vắc-xin kéo dài đến 6 tháng trên cá mú chấm cam.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả lựa chọn phương pháp xử lý với rifampicin để tạo dòng giảm độc lực thay vì các phương pháp khác?
Rifampicin là kháng sinh phổ rộng có khả năng liên kết đặc hiệu vào tiểu đơn vị β của enzyme RNA polymerase (do gen rpoB mã hóa), gây ức chế quá trình phiên mã. Việc nuôi cấy vi khuẩn dại dưới áp lực nồng độ rifampicin tăng dần tạo ra các đột biến chọn lọc ngẫu nhiên trên gen rpoB và các gen liên quan. Phương pháp này đã được chứng minh hiệu quả trên nhiều loài vi khuẩn thủy sản (Edwardsiella ictaluri, Flavobacterium psychrophilum, Vibrio anguillarum), cho phép tạo ra các dòng vi khuẩn sống suy giảm độc lực nhưng vẫn bảo tồn cấu trúc kháng nguyên bề mặt, giúp kích thích đáp ứng miễn dịch mạnh và kéo dài mà không đòi hỏi thao tác can thiệp gen phức tạp.
2. Các chủng vi khuẩn V. parahaemolyticus phân lập từ cá bệnh trong nghiên cứu có mang hai gen độc tố tdh và trh không?
Kết quả kiểm tra phân tử bằng phản ứng PCR trên 11 chủng vi khuẩn phân lập cho thấy tất cả các chủng đều không mang gen tdh và gen trh, mặc dù chúng đều mang gen toxR và gen tlh. Dữ liệu này phù hợp với các công bố khoa học quốc tế và trong nước (như nghiên cứu của Nishibuchi và cs, Rojas và cs, Nguyễn Văn Duy và cs), xác nhận rằng tỷ lệ các chủng V. parahaemolyticus mang gen tdh và trh ngoài tự nhiên thường rất thấp (chỉ từ 1% đến 5%).
3. Đóng góp nổi bật về kỹ thuật sinh học phân tử đối với gen tlh trong luận án là gì?
Luận án là công trình lần đầu tiên nhân bản thành công kích thước đầy đủ của gen tlh ở vi khuẩn V. parahaemolyticus phân lập tại Việt Nam bằng cặp mồi tlh1-tlh3, cho sản phẩm PCR có kích thước khoảng 1500 bp (bao gồm khung đọc mở 1254 bp mã hóa 417 amino acid). Trước đó, các công bố thường chỉ khuếch đại các đoạn ngắn của gen này (kích thước khoảng 113 bp hoặc 450 bp).
4. Dòng vi khuẩn đột biến L4650 thể hiện mức độ an toàn và hiệu quả bảo hộ trên cá mú chấm cam như thế nào?
Dòng đột biến L4650 đạt độ an toàn tuyệt đối khi tiêm cho cá mú chấm cam ở liều 100 µl nồng độ 10^5 CFU/ml với tỷ lệ cá sống sót 100%. Về hiệu quả bảo hộ, cá được tiêm vắc-xin L4650 khi thử thách công cường độc với chủng vi khuẩn dại đạt tỷ lệ bảo hộ tương đối (RPS) từ 96,91% đến 100% sau 15 ngày tiêm và tiếp tục duy trì tỷ lệ bảo hộ cao từ 93,33% đến 100% sau 6 tháng (180 ngày).
5. Những biến đổi phân tử nào được phát hiện giữa dòng giảm độc lực L4650 và chủng dại LBT6?
Trình tự gen điều hòa toxR của dòng L4650 hoàn toàn tương đồng với chủng dại. Tuy nhiên, gen độc tố tlh xuất hiện các đột biến nucleotide làm biến đổi cấu trúc không gian protein tại vùng xoắn alpha 250-252 khi dựng mô hình bằng Phyre2. Đồng thời, đoạn trình tự 930 bp của gen rpoB ghi nhận các đột biến thay thế amino acid tại vùng xác định kháng rifampicin (RRDR) và các vùng lân cận, tạo nên cơ sở di truyền cho kiểu hình kháng rifampicin và suy giảm độc lực.
Kết luận
Luận án đã giải quyết vấn đề thực tiễn cấp bách trong nuôi trồng thủy sản biển thông qua việc tạo thành công dòng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus đột biến giảm độc lực L4650 bằng áp lực chọn lọc kháng sinh rifampicin. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở di truyền phân tử của tính suy giảm độc lực thông qua các biến đổi trên gen tlh và gen rpoB, đồng thời lần đầu tiên nhân bản thành công kích thước trọn vẹn của gen độc tố tlh. Ứng viên vắc-xin L4650 thể hiện tính ổn định độc lực, độ an toàn cao và tạo được đáp ứng miễn dịch bảo hộ kéo dài tới 6 tháng trên cá mú chấm cam (Epinephelus coioides). Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn vật liệu sinh học phục vụ việc phát triển vắc-xin sống nhược độc thương mại phòng bệnh hoại tử gan thận cho nghề nuôi cá biển.