Luận án tiến sĩ nghiên cứu tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của hệ sinh thái xã hội tại huyện giao thuỷ tỉnh nam định

Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải pháp tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu cho hệ sinh thái xã hội tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Trường đại học

Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu

Chuyên ngành

Biến đổi khí hậu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

202
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Luận điểm bảo vệ của luận án

1.5. Đối tượng nghiên cứu

1.6. Phạm vi nghiên cứu

1.7. Những điểm mới của luận án

1.8. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.9. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỆ SINH THÁI – XÃ HỘI, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THÍCH ỨNG DỰA VÀO HỆ SINH THÁI

3. CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA HỆ SINH THÁI – XÃ HỘI HUYỆN GIAO THUỶ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Biến đổi khí hậu và tác động đến hệ sinh thái xã hội tại Giao Thủy Nam Định

Biến đổi khí hậu đang gây ra những tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái xã hội tại Giao Thủy, Nam Định. Các hiện tượng như nước biển dâng, xâm nhập mặn, và thiên tai cực đoan đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản. Nghiên cứu chỉ ra rằng, khả năng chống chịu của hệ sinh thái xã hội tại đây đang bị suy giảm do sự phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên. Các giải pháp tăng cường khả năng thích ứng cần được triển khai để giảm thiểu rủi ro và bảo vệ môi trường.

1.1. Tác động của biến đổi khí hậu đến các tiểu vùng sinh thái xã hội

Các tiểu vùng sinh thái xã hội tại Giao Thủy chịu tác động khác nhau từ biến đổi khí hậu. Khu vực ven biển đối mặt với nguy cơ ngập lụt và xâm nhập mặn, trong khi khu vực nội địa chịu ảnh hưởng bởi hạn hán và suy giảm đa dạng sinh học. Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, và mực nước biển để đánh giá mức độ tác động. Kết quả cho thấy, khả năng chống chịu của các tiểu vùng này phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên, kinh tế, và xã hội.

1.2. Đánh giá khả năng chống chịu của hệ sinh thái xã hội

Nghiên cứu đã phát triển một bộ chỉ số để đánh giá khả năng chống chịu của hệ sinh thái xã hội tại Giao Thủy. Bộ chỉ số này bao gồm các tiêu chí về nguồn lực tự nhiên, cơ sở hạ tầng, và thể chế chính sách. Kết quả đánh giá cho thấy, các nguồn lực tự nhiên như rừng ngập mặn và đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường khả năng thích ứng. Tuy nhiên, các nguồn lực kinh tế và xã hội cần được cải thiện để nâng cao khả năng chống chịu.

II. Giải pháp tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu

Để tăng cường khả năng chống chịu của hệ sinh thái xã hội tại Giao Thủy, nghiên cứu đề xuất các giải pháp dựa trên tiếp cận thích ứng biến đổi khí hậuphát triển bền vững. Các giải pháp này bao gồm việc bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, cải thiện cơ sở hạ tầng, và nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương. Đặc biệt, việc áp dụng các chiến lược thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) được coi là chìa khóa để giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng phục hồi.

2.1. Bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên

Một trong những giải pháp quan trọng là bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên như rừng ngập mặn và đất ngập nước. Những hệ sinh thái này không chỉ giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu mà còn cung cấp các dịch vụ sinh thái quan trọng cho cộng đồng địa phương. Nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý tài nguyên bền vững và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn.

2.2. Nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng

Nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng địa phương là yếu tố then chốt để tăng cường khả năng chống chịu. Nghiên cứu khuyến nghị tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn về thích ứng biến đổi khí hậuquản lý tài nguyên. Đồng thời, cần xây dựng các mô hình sinh kế bền vững để giúp người dân thích nghi với những thay đổi của môi trường.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chiến lược thích ứngphát triển bền vững tại Giao Thủy, Nam Định. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh họcbảo vệ môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

3.1. Ứng dụng trong quản lý tài nguyên và môi trường

Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện quản lý tài nguyênbảo vệ môi trường tại Giao Thủy. Đặc biệt, việc áp dụng các giải pháp dựa vào hệ sinh thái sẽ giúp tăng cường khả năng chống chịu và giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp quản lý tài nguyên bền vững để đảm bảo sự phát triển lâu dài của địa phương.

3.2. Đóng góp vào khoa học môi trường và biến đổi khí hậu

Nghiên cứu đã góp phần vào sự phát triển của khoa học môi trườngbiến đổi khí hậu thông qua việc phát triển các phương pháp đánh giá và giải pháp thích ứng mới. Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi tại các địa phương có điều kiện tương tự, góp phần vào việc xây dựng các chiến lược thích ứng hiệu quả trên quy mô quốc gia và khu vực.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề phân vùng các khu vực nhằm xem xét tác động và khả năng chống chịu của chúng. Nghiên cứu của Shelby G. tiến hành phân vùng khu vực để đánh giá KNCC khí hậu ở đô thị ở nhằm hỗ trợ cho quy hoạch, trong đó tác giả đề cập đến sự khác biệt về cơ sở hạ tầng ở mỗi tiểu vùng liên quan đến khả năng chống chịu của nó [135]. Thực tế đến nay chưa tìm thấy các báo cáo khoa học nói về việc phân vùng sinh thái – xã hội để phục vụ cho đánh giá tác động hoặc rủi ro khí hậu.

Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới hệ sinh thái – xã hội • Biến đổi khí hậu tác động của tới hệ sinh thái – xã hội: BĐKH gây tác động tất cả các lĩnh vực hạ tầng, kinh tế, sức khoẻ, đa dạng sinh học và đe doạ đến an ninh, môi trường và sự phát triển toàn cầu [53], và, đánh giá các rủi ro do BĐKH gây ra đối với hệ thống tự nhiên - xã hội là rất cần thiết nhằm xây dựng các chiến lược thích ứng phù hợp. Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) đã tổng hợp hàng nghìn nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả, tác động của BĐKH đối với tự nhiên, môi trường, KT- XH cho đến các chiến lược thích ứng và giảm nhẹ. IPCC đã công bố 06 báo cáo đánh giá (AR) - là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH trong đó điển hình là Hội nghị các bên nước tham gia UNFCCC (COP 1-26). Báo cáo lần thứ 4 của IPCC kết luận, những biến đổi trong khí quyển, đại dương và các sông băng chứng tỏ Trái đất đang nóng lên [93], và, giai đoạn 2006–2015 nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,87oC [95].

Năm 2018, IPCC công bố Báo cáo đặc biệt 1,5oC nêu bật một số tác động của BĐKH có thể tránh được bằng cách hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở 14 mức 1,5oC [95]. Cho đến nay, các nghiên cứu về các tổn thất, thiệt hại do BĐKH chủ yếu tập trung vào các hệ thống con người và chưa đề cập thoả đáng đến vai trò trung gian của các hệ sinh thái và các dịch vụ mà hệ sinh thái cung cấp cho hệ thống xã hội, con người. Đây là một lỗ hổng kiến thức lớn vì những tổn thất và thiệt hại đối với con người thường là do những xáo trộn lâu dài hoặc tạm thời do các tác nhân khí hậu gây ra cho các dịch vụ của HST. Đối với hệ thống tự nhiên, BĐKH có thể sẽ làm thay đổi các thành phần và chức năng của HST và do đó sẽ làm thay đổi cả số lượng, chất lượng các dịch vụ mà HST cung cấp, và theo nghiên cứu của Granger (2001), điều này liên quan mật thiết đến các quốc gia đang phát triển bởi sự quan hệ phụ thuộc vào tự nhiên của kinh tế nông nghiệp, lương thực và sinh kế cộng đồng [83].

Nghiên cứu của Selvaraju và cs (2009) dự báo BĐKH sẽ cản trở sự phát triển bền vững của nhiều lĩnh vực kinh tế do những ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng, vật nuôi, thủy sản, lâm nghiệp và sinh kế; có thể làm cho từ 50-170 triệu người có nguy cơ thiếu ăn vào năm 2080, mức độ tùy thuộc vào các dự án hỗ trợ về khí hậu, KT-XH [134]. Moktar và các cs (2016) cho rằng ở các vùng ven biển, để tăng tính thích ứng cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong giám sát, đánh giá [113], dù vậy nghiên cứu này chưa đề cập đến vai trò của các HST tự nhiên trong thích ứng. Nghiên cứu điển hình của Lily và các cs (2018) cho biết, các mối liên hệ nhân quả giữa BĐKH và sự phát triển hay suy thoái của các hệ thống sinh thái – xã hội ở quy mô nhỏ hay lớn thường rất phức tạp [107]. Nghiên cứu về vấn đề BĐKH theo tiếp cận hệ ST-XH bắt đầu được thảo luận trong một số nghiên cứu gần đây, chủ yếu trong khoa học xã hội, môi trường.

Grimm và các cs (2013) và Hai-Long và các cs (2015) mô tả mối quan hệ giữa các suy thoái môi trường, tự nhiên với đời sống con người và nhấn mạnh, BĐKH là một cú sốc lớn có thể tác động hoặc làm biến đổi toàn diện các hệ thống tự nhiên (như các HST, nguồn gien, các loài) và xã hội (sinh kế cộng đồng, sự an toàn cư trú, vấn đề di cư) [84, 86]. Vấn đề ứng phó BĐKH gắn với quản lý tài nguyên xuất hiện thường xuyên hơn trong các công bố khoa học về SES với các tác giả như Lance (2000), Walker (2006), Tessovà cs, 2012; Grimm (2013); Folke (2003, 2014), Delgado (2015), Hai- 15 Long (2015); Chaiteera (2017), Adán (2018),… và chứng minh tính DBTT cũng như mối quan hệ tác động nhân quả của thời tiết cực đoan tới các hợp phần của hệ ST- XH. Các vấn đề được bàn luận nhiều là các mô hình thích ứng theo tiếp cận SES, tính DBTT và khả năng chống chịu của các HST nông nghiệp, mối liên quan của chúng với các yếu tố xã hội, chính trị. Nhiều tác giả đã chứng minh tính DBTT của các hệ ST-XH ở cả nông thôn và đô thị.

Céline và các cs (2012) chỉ ra, nhiệt độ trung bình tăng và nắng nóng kéo dài làm cho các HST bị chia cắt, chúng phản ứng yếu ớt, chậm chạp hơn trước những sự thay đổi và điều này sẽ làm mất đi nhiều loài sinh vật [62]. Các nghiên cứu về BĐKH trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, sử dụng đất dường như được biết đến nhiều hơn so với mảng ĐDSH, hệ sinh thái. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến tính tổn thương mà các hệ thống xã hội, tự nhiên phải gánh chịu do BĐKH, nhưng các tác giả tập trung nhiều hơn vào các cảnh báo rủi ro mà chưa đề cập đến tính chống chịu BĐKH về lâu dài của các hệ thống này. • Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới hệ sinh thái – xã hội Hệ sinh thái – xã hội và các hợp phần của hệ chịu ảnh hưởng, tác động khác nhau bởi các yếu tố BĐKH.

Khi đánh giá tác động của BĐKH, thế giới hiện phổ biến hai kiểu tiếp cận chính là dựa trên đánh giá tác động (impact-based approaches) và dựa trên đánh giá tổn thương (vulnerability-based approaches) [52, 106]. Tiếp cận dựa trên tác động là đánh giá hiện trạng và tiềm năng ảnh hưởng của BĐKH đến hệ thống các thành phần của hệ sinh thái – xã hội theo các kịch bản khác nhau, gồm các tác động ở hiện tại, tương lai (theo kịch bản) và cần được cập nhật khi các kịch bản BĐKH, NDB và quy hoạch KT-XH, chính sách có điều chỉnh. Các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương được chia làm hai loại: đánh giá DBTT theo cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” và cách tiếp cận “thế hệ thứ hai” (IPCC, 2007) [93]. Cách tiếp cận “thế hệ thứ nhất” còn được gọi là tiếp cận “tác động của BĐKH” hay “từ trên xuống” được xây dựng để giúp hiểu những tác động tiềm tàng của BĐKH trong dài hạn, chủ yếu dựa trên chuỗi số liệu quá khứ và kịch bản.

Ngược lại, cách tiếp cận “thế hệ thứ hai”, hay còn được gọi là cách tiếp cận “thích ứng với BĐKH” hay “từ dưới lên” thì tập trung vào các hệ quả của thiên, rủi ro khí hậu gây ra cho đời sống, tự nhiên và đề ra các giải pháp thích ứng với sự tham gia của cộng đồng. Zenebe và cs (2018) trong một nghiên cứu về tính DBTT do BĐKH của hộ gia đình và HST nông nghiệp ở Ethiopia chỉ ra rằng, các hộ dân có sinh kế phụ thuộc lớn vào HST thì rủi ro cao hơn, và, có sự khác biệt lớn về mức độ rủi ro của các cộng đồng sống ở các tiểu vùng sinh thái khác nhau [152]. Nghiên cứu cũng khuyến nghị cần áp dụng đồng thời cả tiếp cận đánh giá từ trên xuống và từ dưới lên, cả đánh giá định lượng và định tính với các hợp phần được chọn. Đây cũng là một trong số ít các nghiên cứu đề cập đến phân vùng tác động và các rủi ro phức tạp về tự nhiên – con người trong khi đánh giá tính DBTT của hệ thống sinh thái – xã hội.

Kết quả chung của một số nghiên cứu điển hình như trên đã cho thấy, tiếp cận việc đánh giá tác động của BĐKH theo hệ sinh thái – xã hội tạo điều kiện cho sự hiểu biết tổng thể về những biến đổi của khí hậu trên quy mô lớn tác động như thế nào đến các hợp phần của cả hệ thống sinh thái và xã hội, cũng như cách con người có thể quản lý, giảm thiểu, hưởng lợi và / hoặc thích ứng với những thay đổi này. Trên phạm vi quốc tế, việc nghiên cứu về đánh giá các tác động của BĐKH đến hệ ST-XH và đề xuất các chiến lược, kế hoạch ứng phó hiện đã trở thành vấn đề toàn cầu, được ưu tiên quan tâm trên nhiều diễn đàn khoa học quốc tế. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến nguyên nhân, tác động, giải pháp ứng phó BĐKH trong nhiều lĩnh vực, nhiều quốc gia, vùng miền, đối tượng DBTT với đa dạng cách tiếp cận và phương pháp. Có thể nói, các phương pháp tiếp cận định lượng hoặc bán định lượng, đa diện, liên ngành để đánh giá tính DBTT là cần thiết để nâng cao hiểu biết của con người về các tác động, rủi ro đến môi trường, kinh tế và xã hội.

Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều công bố khoa học bàn về tác động của BĐKH đến các hệ ST-XH và vai trò của nguồn lực để tăng khả năng chống chịu của hệ ST-XH. Đánh giá khả năng chống chịu biến đổi khí hậu của hệ sinh thái – xã hội và phương pháp đánh giá bằng bộ chỉ số 1. Khả năng chống chịu của hệ thống Theo nghĩa chung nhất có thể hiểu khả năng chống chịu (KNCC) là khả năng phục hồi/ trở về trạng thái/ hình dạng/ kích thước ban đầu của một vật, một hệ thống, một tình trạng sau khi bị tác động từ bên ngoài. Nghiên cứu tổng hợp của Lance H.

Nghiên cứu của Selvaraju và cs (2009), trong phạm vi hẹp hơn thì các HST nông nghiệp, để ứng phó với BĐKH, ngoài gia tăng tính chống chịu của toàn hệ thống còn phải chú ý tới các tiểu hợp phần, cụ thể như tuyển chọn các giống vật nuôi, cây trồng chịu hạn, chịu mặn, chịu ngập, chịu lạnh,… [134].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tăng cường khả năng chống chịu biến đổi khí hậu cho hệ sinh thái xã hội tại Giao Thủy, Nam Định là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng và hệ sinh thái trước những tác động của biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội tại khu vực Giao Thủy mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể để giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự bền vững. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức bảo vệ hệ sinh thái và cộng đồng trong bối cảnh khí hậu ngày càng khắc nghiệt.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ trên các dạng lập địa chính vùng cát ven biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị, một nghiên cứu sâu về kỹ thuật trồng rừng phòng hộ ven biển. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật thoái hóa và một số mô hình rừng trồng ở thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cung cấp thêm góc nhìn về phục hồi hệ sinh thái. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long giúp hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế và kinh tế địa phương.