Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại Việt Nam chiếm khoảng 1.200.000 ha, nhưng phần lớn đang chịu áp lực thoái hóa nghiêm trọng do tác động nhân tác trong nhiều thập kỷ qua. Quần đảo Cát Bà với tổng diện tích tự nhiên 29.831,5 ha, trong đó vùng đệm chiếm 17.592,5 ha và vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Bà quản lý 12.239,0 ha, đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới vào tháng 12 năm 2004. Tuy nhiên, thảm thực vật rừng Karst tại khu vực vùng đệm đang ở trạng thái nghèo kiệt, cấu trúc tầng tán bị phá vỡ và khả năng tự phục hồi sinh thái gặp nhiều rào cản do điều kiện thổ nhưỡng xương xẩu kiệt nước.

Đề tài tập trung nghiên cứu bản chất quy luật tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên núi đá vôi tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà, thành phố Hải Phòng. Mục tiêu cốt lõi là đánh giá toàn diện đặc điểm cấu trúc tầng cây cao, mật độ, tổ thành loài, chất lượng và phân bố không gian của lớp cây tái sinh trên 3 trạng thái rừng chính gồm trạng thái phục hồi sau nương rẫy IIB, trạng thái rừng thứ sinh nghèo IIIA1 và trạng thái rừng thứ sinh trung bình IIIA2.

Nghiên cứu được triển khai thực địa chi tiết trên các dạng địa hình có độ dốc từ 15 độ đến 32 độ và dải độ cao từ 45 m đến 105 m tại các xã vùng đệm như Gia Luận, Trân Châu, Phù Long, Hiền Hào và Xuân Đám. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác, làm cơ sở khoa học tin cậy để xây dựng các giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo tồn 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch và phục hồi bền vững diện tích rừng đặc dụng vùng hải đảo Đông Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết sinh thái phát sinh quần thể thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng, khẳng định thảm thực vật là sự phản chiếu tổng hợp của hoàn cảnh tự nhiên qua lăng kính sinh vật học. Đồng thời, đề tài kế thừa lý thuyết tái sinh phân tán liên tục và tái sinh lỗ trống của Van Steenis, kết hợp học thuyết về sự điều tiết độ tàn che tối ưu của Yurkevich, xác định khoảng tàn che từ 0,5 đến 0,7 là điều kiện lý tưởng cho sự nảy mầm và sinh trưởng của cây gỗ con.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu (Đk), Chỉ số giá trị quan trọng (Important Value Index - IV%), Hệ số tương đồng tổ thành Sorensen (BC), và Mô hình phân bố không gian Poisson biểu diễn mối quan hệ giữa phương sai và giá trị trung bình mật độ.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra thực địa trên 9 ô tiêu chuẩn tạm thời có diện tích 1.000 m2 (kích thước 50 m x 20 m), chia đều cho 3 trạng thái rừng IIB, IIIA1 và IIIA2 (mỗi trạng thái 3 ô tiêu chuẩn). Tại mỗi ô tiêu chuẩn, tiến hành thiết lập 5 ô dạng bản diện tích 25 m2 (kích thước 5 m x 5 m) bố trí tại 4 góc và vị trí trung tâm, tổng cộng thực hiện đo đếm trên 45 ô dạng bản với tổng diện tích điều tra lớp cây tái sinh là 1.125 m2.

Phương pháp chọn mẫu đại diện điển hình được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ tính phân hóa theo độ dốc, hướng phơi và độ dày tầng đất Feralit nâu đỏ (biến động từ 30 cm đến 100 cm). Quy trình phân tích số liệu ứng dụng phương pháp Daniel Marmillod để xác định chỉ số IV% dựa trên trung bình cộng tỷ lệ phần trăm số cây và tiết diện ngang của từng loài. Phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao vút ngọn (N/Hvn) được phân tổ theo công thức thực nghiệm Brooks & Carruthers, sau đó kiểm định độ tương thích với phân bố lý thuyết bằng tiêu chuẩn Khi bình phương (Chi-squared). Mối liên hệ kế thừa giữa tầng cây cao và tầng tái sinh được lượng hóa qua chỉ số Sorensen với ngưỡng tin cậy từ 0,75 trở lên. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý số liệu hoàn thành trong giai đoạn 2010 - 2011 với sự trợ giúp của phần mềm SPSS và Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng số loài cây gỗ ghi nhận tại tầng cây cao qua 9 ô tiêu chuẩn là 33 loài, phản ánh sự biến đổi sâu sắc về tổ thành loài theo từng giai đoạn phục hồi rừng:

  • Tại trạng thái IIB, mật độ tầng cây cao đạt trung bình 229 cây/ha với tổng tiết diện ngang 0,789 m2/ha. Công thức tổ thành có 6 loài đạt chỉ số IV% lớn hơn hoặc bằng 5%, chiếm tổng giá trị quan trọng 88,38%. Loài Kim giao chiếm ưu thế vượt trội với IV% đạt 33,92% và mật độ 67 cây/ha, tiếp theo là Trâm sánh (17,26%) và Ô rô vàng (12,52%).
  • Tại trạng thái IIIA1, mật độ đạt trung bình 203 cây/ha và tổng tiết diện ngang tăng lên 1,498 m2/ha. Số loài xuất hiện tăng lên 16 loài, trong đó có 7 loài tham gia công thức tổ thành với tổng mức độ quan trọng 75,00%. Kháo xanh trở thành loài chiếm ưu thế nhất với IV% đạt 28,12% (mật độ 50 cây/ha), vượt trội so với Chẹo tía (12,30%) và Thị rừng (11,07%).
  • Tại trạng thái IIIA2, mật độ tầng cây cao giảm còn 183 cây/ha nhưng tổng tiết diện ngang đạt mức cao nhất là 2,000 m2/ha. Ghi nhận 18 loài tham gia quần xã, có 7 loài chủ chốt chiếm 70,00% tổng chỉ số quan trọng. Kháo xanh duy trì vị thế dẫn đầu với IV% đạt 18,56%, tiếp đến là Trâm sánh (13,37%) và Trám chim (11,46%).
  • Phân tích cấu trúc N/D1.3 cho thấy quy luật phân bố số cây theo cấp kính ở cả ba trạng thái đều tuân theo dạng đường cong giảm liên tục. Mật độ cây tập trung cao nhất ở cỡ kính nhỏ 6,9 cm và giảm dần đều đến cỡ kính lớn nhất 23,1 cm, khẳng định tính chất tái sinh liên tục qua nhiều thế hệ của lâm phần.
  • Lớp cây tái sinh dưới tán có mật độ dao động từ 1.800 đến 3.200 cây/ha, chủ yếu có nguồn gốc từ hạt (chiếm trên 75% tổng số cá thể), phân bố theo dạng cụm rõ rệt (hệ số Poisson lớn hơn 1) và tập trung phần lớn ở cấp chiều cao từ 0,5 m đến 1,5 m.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm mật độ từ 229 cây/ha ở trạng thái IIB xuống 183 cây/ha ở trạng thái IIIA2, kết hợp với sự gia tăng mạnh mẽ 153,49% của tổng tiết diện ngang (từ 0,789 m2/ha lên 2,000 m2/ha), minh chứng cho quy luật đào thải tự nhiên và quá trình tự tỉa thưa khốc liệt. Các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh dần nhường chỗ cho các loài cây gỗ chịu bóng, có chu kỳ sống dài và khả năng tích lũy sinh khối lớn hơn.

Đặc điểm thổ nhưỡng với tầng đất mỏng từ 30 cm đến 40 cm trên sườn dốc 20 độ đến 30 độ tại vùng Karst Cát Bà là nguyên nhân chính khiến cây tái sinh phân bố không đồng đều mà tập trung thành từng cụm tại các hốc đá và thung lũng tích tụ mùn. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố của Thái Văn Trừng và Bùi Thế Đồi khi khảo sát rừng núi đá vôi phía Bắc, khẳng định hệ số tương đồng Sorensen đạt trên 0,75 giữa tầng cây cao và lớp cây tái sinh phản ánh tính kế thừa bền vững của các loài cây mục đích bản địa.

Toàn bộ động thái cấu trúc này được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị đường cong tần số thực nghiệm N/D1.3 kết hợp đường lý thuyết kiểm định Khi bình phương, bảng ma trận tính toán chỉ số IV% chi tiết và biểu đồ so sánh sinh khối tiết diện ngang giữa các trạng thái diễn thế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi sinh thái rừng trên núi đá vôi tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản trị đồng bộ:

  • Áp dụng kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có biện pháp hỗ trợ: Mục tiêu nâng mật độ cây tái sinh mục đích lên trên 2.500 cây/ha, đảm bảo tỷ lệ sống đạt trên 85% tại các trạng thái rừng IIB và IIIA1. Timeline thực hiện liên tục trong giai đoạn 2012 - 2016, do Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà chủ trì điều hành.
  • Điều tiết cấu trúc tán rừng và vệ sinh lâm phần: Duy trì độ tàn che lâm phần ở mức tối ưu từ 0,5 đến 0,6 bằng cách phát luỗng dây leo, cây bụi xâm lấn chèn ép cây tái sinh định kỳ 6 tháng một lần trong 2 năm đầu. Chủ thể thực hiện là Hạt Kiểm lâm Cát Hải phối hợp cùng các tổ đội bảo vệ rừng cơ sở.
  • Trồng dặm bổ sung các loài cây bản địa có giá trị bảo tồn cao: Đưa các loài cây bản địa như Kim giao, Lát hoa, Trai lý và Nghiến vào các lỗ trống tán rừng với mật độ từ 300 đến 500 cây/ha. Thời gian hoàn thành trồng bổ sung trong giai đoạn 2012 - 2015, do Trung tâm Cứu hộ và Phát triển Sinh vật Cát Bà phụ trách kỹ thuật giống.
  • Hoàn thiện cơ chế giao khoán bảo vệ rừng gắn liền với phát triển sinh kế: Thực hiện giao khoán 100% diện tích rừng vùng đệm (17.592,5 ha) cho cộng đồng cư dân 5 xã vùng đệm quản lý, đặt mục tiêu giảm 100% tình trạng khai thác gỗ củi trái phép và tăng thu nhập bình quân của người dân thêm 20% đến 30% thông qua các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng trong giai đoạn 2012 - 2020 dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý và chuyên viên kỹ thuật lâm nghiệp tại Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà, Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng: Ứng dụng trực tiếp số liệu cấu trúc và công thức tổ thành để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và quy hoạch khoanh nuôi bảo vệ 17.592,5 ha rừng vùng đệm.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học môi trường: Sử dụng hệ thống dẫn chứng thực nghiệm và cơ sở dữ liệu về 33 loài cây gỗ núi đá vôi làm tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các công trình nghiên cứu diễn thế rừng Karst nhiệt đới.
  • Học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh: Tiếp cận quy trình phương pháp luận chuẩn xác về bố trí 9 ô tiêu chuẩn 1.000 m2, kỹ thuật lập 45 ô dạng bản 25 m2, thuật toán Daniel Marmillod tính IV% và kiểm định phân bố thống kê Khi bình phương.
  • Các chuyên gia điều phối dự án thuộc các tổ chức phi chính phủ và bảo tồn quốc tế như UNESCO, IUCN, WWF: Tham khảo mô hình phân vùng kinh tế - sinh thái để thiết kế các gói tài trợ bảo tồn đa dạng sinh học gắn với hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng dân cư 5 xã vùng đệm Cát Bà.

Câu hỏi thường gặp

Việc nghiên cứu tái sinh tự nhiên trên núi đá vôi Cát Bà có ý nghĩa cấp thiết như thế nào?

Rừng trên núi đá vôi Cát Bà có địa hình hiểm trở và tầng đất mỏng chỉ từ 30 cm đến 40 cm nên khi bị tàn phá rất khó tự phục hồi. Việc hiểu rõ quy luật tái sinh tự nhiên giúp định hình các giải pháp lâm sinh chính xác, tiết kiệm chi phí phục hồi thảm thực vật cho 17.592,5 ha vùng đệm và bảo tồn bền vững nguồn gen quý hiếm.

Chỉ số IV% của loài Kim giao và Kháo xanh thể hiện đặc điểm sinh thái gì?

Loài Kim giao đạt IV% cao nhất là 33,92% tại trạng thái IIB chứng minh khả năng thích nghi tiên phong tạo hoàn cảnh rừng ban đầu. Trong khi đó, Kháo xanh chiếm ưu thế tại trạng thái IIIA1 (28,12%) và IIIA2 (18,56%) phản ánh quá trình diễn thế chuyển dần sang các loài cây gỗ thường xanh có tính ổn định cao và đời sống dài.

Mật độ và tiết diện ngang tầng cây cao biến đổi theo xu hướng nào qua các trạng thái phục hồi?

Mật độ cây giảm dần từ 229 cây/ha ở trạng thái IIB xuống 203 cây/ha (IIIA1) và 183 cây/ha (IIIA2) do quá trình tự tỉa thưa tự nhiên. Ngược lại, tổng tiết diện ngang tăng trưởng mạnh 153,49%, từ 0,789 m2/ha ở trạng thái IIB lên 2,000 m2/ha ở trạng thái IIIA2, minh chứng cho sự gia tăng tích lũy sinh khối của lâm phần.

Phương pháp điều tra 9 ô tiêu chuẩn 1.000 m2 và 45 ô dạng bản có đảm bảo độ tin cậy khoa học không?

Phương pháp hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy cao nhờ phân bổ đều 3 ô tiêu chuẩn cho mỗi trạng thái tại các dải độ dốc từ 15 độ đến 32 độ. Việc kiểm tra phân bố đường kính bằng tiêu chuẩn Khi bình phương và phân tích tương đồng Sorensen giúp loại bỏ sai số thống kê, phản ánh đúng thực trạng lâm phần.

Biện pháp lâm sinh nào cần được ưu tiên hàng đầu tại vùng đệm Cát Bà?

Biện pháp ưu tiên số một là khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp điều tiết độ tàn che tán rừng từ 0,5 đến 0,6. Đồng thời, cần phát dọn cây bụi cạnh tranh và trồng dặm bổ sung các loài cây bản địa như Kim giao, Lát hoa với mật độ từ 300 đến 500 cây/ha tại các lỗ trống.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cấu trúc tầng cây cao và lớp cây tái sinh trên 3 trạng thái rừng IIB, IIIA1, IIIA2 tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà thông qua 9 ô tiêu chuẩn 1.000 m2 và 45 ô dạng bản 25 m2.
  • Xác lập công thức tổ thành chi tiết cho 33 loài cây gỗ, chỉ ra sự chuyển dịch ưu thế sinh thái từ Kim giao (IV% = 33,92%) ở giai đoạn phục hồi sớm sang Kháo xanh (IV% = 18,56% - 28,12%) ở giai đoạn rừng thứ sinh ổn định.
  • Khẳng định quy luật phân bố số cây theo đường kính N/D1.3 tuân theo quy luật phân bố giảm và lớp cây tái sinh phân bố dạng cụm theo mô hình Poisson với tỷ lệ cây con nguồn gốc hạt đạt trên 75%.
  • Đóng góp hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc quản lý 17.592,5 ha vùng đệm và định hướng chiến lược phục hồi hệ sinh thái Karst đặc thù tại Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cát Bà.
  • Lộ trình triển khai các giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng và giám sát đa dạng sinh học được đề xuất thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2012 - 2025 nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên rừng đảo Cát Bà.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan lâm nghiệp hãy áp dụng ngay khung giải pháp lâm sinh này vào thực tiễn để nâng cao chất lượng rừng và bảo tồn trọn vẹn cảnh quan thiên nhiên Cát Bà!