Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1. Giới thiệu về chi Ardisia Phân loại khoa học: e Ngành Ngoc lan: Magnoliophyta e Bộ Anh thao: Primunales e Họ Đơn nem: Myrsinaceae e Chi: Ardisia Ardisia là một chi lớn, có khoảng 260 loài trên thế giới, phân bố nhiều ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Á, nhất là vùng Đông Nam Á, Ấn Độ có 45 loài, Việt Nam có 94 loài, (Đỗ Huy Bích và ctv, 2006). Những loài trong chi Ardisia thường có những đặc điểm chung về hình thái như sau: Cây gỗ nhỏ, bụi hoặc nửa bụi, gần giống với dạng cây thân thảo. Lá đơn, mọc cach, ít khi mọc đối hoặc gần mọc vòng, mép lá có răng cưa tròn, hoặc nguyên, thường có các điểm tuyến.
Cum hoa hình chùm, xim, tan ngù ở đầu cành, nách lá hoặc ngoài nách lá. Hoa lưỡng tính, mẫu 5, ít khi mẫu 4. Bao hoa có đài hoa và tràng hoa tách biệt. Lá bắc nhỏ, rụng sớm.
Cánh hoa mỏng, thuộc dạng hơi hợp ở gốc, ít khi hợp đến 1⁄2 chiều đài, xếp vặn về phía phải và thường có điểm tuyến. Bầu thường hình cầu hoặc hình trứng: vòi nhụy thường ngắn hơn cánh hoa; núm hình chấm; noãn 3 — 12 hoặc nhiều hơn, xếp thành một vòng hay đến nhiều vòng. Lá noãn có một vòi nhụy và một núm nhụy, với bầu nhụy một ô, là loại bầu thượng hoặc bầu bán hạ. Quả mọng dạng quả hạch, hình cầu hoặc hình cầu đẹp, màu hồng, thường có điểm tuyến, có lúc còng có gân tuyến, hạt được bao phủ bởi màng còn sót lại của giá noãn, phôi mọc ngang hoặc mọc thang, (Pham Hoàng Hộ, 1999; Trần Thị Kim Liên, 2002).
Một số loài trong chi phân bé ở trên thế giới và Việt Nam đã được mô tả đặc điềm hình thái, đặc điểm sinh lý, vị trí phân bố hoặc sử dung làm thuốc như: Ardisia gigatifolia Stapf tên thường gọi là khôi trắng có hai mặt lá đều mau xanh tương tự như Khôi tia, theo kinh nghiệm dan gian thì cả hai loại đều có tác dụng chữa bệnh nhưng ưa dùng loại khôi tía hơn (Vũ Anh Tuấn, 2006). Phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam, từ Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Binh, Nghệ An vào Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế đến Kon Tum (Trần Thị Kim Liên, 2002). Trong dân gian lá được dùng nấu nước cho phụ nữ uống sau khi sinh đẻ. Ở Trung Quốc, rễ và toàn thân được dùng làm thuốc trị phong đau nhức các khớp, đòn ngã ton thuống, phụ nữ sau sinh bị bại liệt, lá đùng ngoài ngã đắp trị sưng đau, mụn lở loét.
Cây Ardisia crenata Sims còn gọi là cây trọng đũa, cơm nguội rang. Cây trọng đũa phân bố ở An Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào, Việt Nam va Trung Quốc, ở Việt Nam, cây phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi và trung du ở độ cao thường dưới 1500 m. Cây ưa âm, hơi chịu bóng, mọc lẫn trong các quan thé cây bụi, cây gỗ nhỏ ở ven rừng, bờ nương ray, đổi hoặc đôi khi đưới tán rừng kín thường xanh, rừng núi đá vôi hoặc ở chỗ trồng của các cây gỗ đã bị chặt. Trọng đũa ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.
Cây còn có khả năng tái sinh cây chồi sau khi bị chặt đón. Bộ phận dùng: Rễ, lá thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Ardisia humilis Vahl có tên tiếng Việt là Cơm nguội nhỏ, Cây dang dang, Lục chột. Cây mọc ở các tỉnh Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Kon Tum, Lâm Đồng.
Cây mọc tự nhiên rải rác trong rừng hỗn giao, sườn đồi, ở độ cao tới 1000 m. Dùng làm thuốc bổ máu, chữa phong thấp (cả cây). Cơm nguội rạng Ardisia splendens được Pitard miêu tả khoa học lần đầu năm 1930. Cây bụi, cao khoảng 1-1,2 m.
Thân non tròn, mảnh, vỏ màu xám, có đường khía dọc. Lá hình mác ngược hẹp, cuống đài 5-8 mm, đẹp và có rãnh ở mặt trên. Cánh hoa 5, đài 5-6 mm, hình thuôn, nhọn, mỏng, màu hồng; ống rất ngắn. Quả hình cầu, đường kính 5- 7 mm.
Loài này mới thấy ở ở Quảng Trị (Mai Lãnh), Đồng Nai (Trần Thị Kim Liên, 2002). Một số loài trong chi Ardisia 1. Ardisia silvestris Pitard Ardisia silvestris Pitard hay còn gọi là Khôi nhung (hay Khôi tia; cây Độc lực: Don tướng quân) là một loai ở trong chi Ardisia, họ đơn nem. Đặc điểm nhận dạng: Cây gỗ bụi nhỏ, cao khoảng 1,5 — 2 m, ít phân cành, thân rỗng xốp, gần ngọn có lá nhiều (Đỗ Tắt Lợi, 2005).
Lá mọc cách, màu tím, thường tập trung ở đầu thân hoặc đầu nhánh, phiến lá hình bầu dục hoặc trứng ngược, dài 20 — 30 cm, rộng 6 — 8 cm, hình mác thuôn, sốc và đầu nhọn, mép khía răng cưa nhọn, nhỏ, đều và sit nhau, mặt trên màu xanh mịn, mat đưới màu tím có nhiều chấm nhỏ (cay ra có màu gach cua). Cụm hoa chùm tán ở nách lá, dai 10 — 15 cm. Cánh hoa màu hồng tím; lá bắc hình mác; đài 5 ráng có long dạng mi; ống ngắn; tràng 5 cánh. Quả hạch hình cầu, khi chín màu đỏ (Vũ Huy Bích và ctv, 2006).
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa thang tháng 5 — 7, mùa quả chín tháng 8 — 10. Tái sinh bằng hạt. Cây ưa bóng mọc dưới tán rừng ram ẩm ướt, phát triển tốt trên lớp đất nhiều mùn trong rừng tự nhiên, ở độ cao từ 400 — 1000 m Phân bố: Ở trong nước cây phân bố rộng khắp các tỉnh như Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo). Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hoá (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế (Phú Lộc), Đà Nẵng.
Trên thế giới Trung Quốc (Hải Nam, Quảng Tây) và Lào. Giá trị: Lá sắc uống chữa đau da dày, đau bụng (Sách đỏ Việt Nam năm 2007). Được dùng phối hợp với bồ công anh, khổ sâm, cam thảo dé sử dụng trong trường hợp thể trạng sút kém, bụng đầy trướng, kém ăn, mệt mỏi, đau vùng thượng vị, đau từng cơn, lan ra hai bên sườn xuyên ra sau lưng, người bị viêm loét dạ dày tá tràng (Đỗ Tắt Lợi, 2005) Bài thuốc kết hợp 4 vị thuốc này đã được Hội đông y Thanh Hóa và các Viện Đông y sử dụng trong điều trị bệnh đau dạ dày rất có hiệu quả. Nhân dân miền ngược vùng Lang Chánh, Ngọc Lạc tỉnh Thanh Hoá thường dùng lá khôi chế biến, sắc uống chữa đau bụng.
Hội Đông y Thanh Hoá đã kết hợp dùng lá khôi (80g), lá bồ công anh (40g) và lá khổ sâm (12g) sắc uống chữa đau da dày; có thê gia thêm lá cam thảo dây (20g). Nhiều địa phương khác ở tỉnh Nghệ An cũng dùng lá khôi chữa đau dạ dày. Lá khôi được dùng với lá vôi, lá hoé nau nước tắm cho trẻ bi sài 16, hoặc giã với lá Vối trộn với dầu vùng dap nhot cho trẻ. Người Dao dùng rễ cây khôi thái nhỏ phơi khô ngâm rượu uống cho bỏ huyết, lai dùng sắc uông chữa kiệt ly ra máu, đau yêt hau và đau cơ nhục.
Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của chỉ Ardisia tại Việt Nam và trên thế giới 1. Nghiên cứu về thành phần hóa học trên thế giới Trên thé giới các nghiên cứu về chi Ardisia được nghiên cứu khá sớm. Từ năm 1968, nhà khoa học người Nhật là Ogawa Hideko và cộng sự đã tìm thấy các hợp chat ardisiaquion A, B, C từ cây Ardisia sieboldi (Paul và ctv, 2014). Tuy nhiên các nghiên cứu về thành phan hóa học và hoạt tinh sinh học trong chi Ardisia mới thực sự phát triển trong những năm gần đây.
Các công trình nghiên cứu này đều cho thấy trong chi Ardisia có nhiều hợp chất có cau trúc mới và có nhiều hoạt tính sinh học đáng quý, nôi trội lên đó là hoạt tính gây độc tế bào, chống ung thư. Các hợp chất có khung triterpenoid saponin Rất nhiều các công trình nghiên cứu trước đây cho thấy các hợp chất triterpenoid saponin rất phô biến trong chi Ardrisia. Các hợp chat này cũng rất phố biến và phân bố rộng rãi ở rất nhiều loài thực vật, một số sinh vật biển, nhờ có sự đa dạng về cấu trúc hóa học nên các hợp chất này có tính kháng nắm, kháng khuẩn và đặc biệt hơn là có tác dụng ức chế tế bào ung thư rất tốt (Mu và ctv, 2013). Năm 1986, Chaweewan và ctv đã phát hiện được 2 hợp chat triterpenoid saponin là ardisiacrispin A và ardisiacrispin B phân lập được từ rễ của cây Ardisia crispa, (Jia và ctv, 1994).
Hỗn hợp 2 hợp chất này có tác dụng gây ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư gan người Bel-7402 (L1 và ctv, 2012). Có 24 hợp triterpenoid saponin đã được phân lập và khảo sát một số hoạt tính của chúng từ rễ cây Ardisia japonica (Chang va ctv, 2007; de Mejia và ctv, 2011; Li va ctv, 2005). 21 hợp chat trong số nay có kha năng ức chế các dòng tế bao ung thư trên người gồm các dòng tế bào ung thư HL-60, KATO-III và A549 (Chang va ctv, 2007). Jing Huang và ctv đã nghiên cứu va phân lập được 8 hợp chất triterpenoid saponin từ rễ loài cây Ardisia mamillata, được đặt tên là ardisimamillosides (A-H) (Huang và ctv, 2000a, 2000b, 2003), cùng với đó là 17 hợp chất triterpenoid saponin đã thu được từ loài Ardisia gigantifolia, trong đó 13 hợp chất được phân lập từ phan rễ thân của loài này, một trong số chúng có tiềm năng trong việc ức chế khối u ung thư biểu mô gan (Gong va ctv, 2010; Mu va ctv, 2010; 2012, 2013, 2015).
Các dẫn xuất trong dịch chiết methanol cây Ardisia gigantifolia đã được báo cáo là có kha năng ức chế sự phát triển của khối u ung thư tuyến vú người MCF-7 in vitro. Một số nghiên cứu thành phan hóa học trên loài Ardisia pusilla đã phân lập được một số triterpenoid saponin mới và ardipusillosides (I-V), trong đó Ardipusillosides (1,1) thé hién hoat tinh dang ké trong viéc chéng lai ung thu biểu mô (ej phối và gan, (Cao WY và ctv, 2015; Tian và ctv, 2009). Các nghiên cứu của Tang va ctv, 2009 cho thay ba hợp chat Ardipusillosides (III-V) có khả năng gây độc tế bào U251MG (tế bào u thần kinh đệm) ở người. Các hợp chất có khung quinone và alkyl phenol Quinone là lớp chất hữu cơ bắt nguồn từ các hợp chất thom ví như benzen hoặc naphthalen, hợp chất này được xác định bởi sự hiện diện của 2 liên kết đôi của một vòng thơm.
Cũng giống như lớp chất triterpenoid saponin, ở một số loài thuộc chi Ardisia, người ta cũng tìm thấy sự đa dạng về cau trúc của bộ khung quinone.