Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan những vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc 1. Khái niệm những vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc Khái niệm các vấn đề bất lợi liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Related Problems - DRP) lần đầu tiên được đề cập vào năm 1990: “một vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tồn tại khi bệnh nhân xuất hiện hoặc có khả năng xuất hiện một bệnh hoặc một triệu chứng bệnh có liên quan thực sự hoặc nghi ngờ có mối liên quan với thuốc điều trị” [54]. Hiệp hội Chăm sóc Dược Châu Âu (Pharmaceutical Care Network Europe - PCNE), DRP là “những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh” [59].
Tại Việt Nam, khái niệm về các vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc chưa được đề cập trong các văn bản hoặc tài liệu chuyên ngành. Phân loại những vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc Những vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ hoạt động kê đơn, cấp phát thuốc đến thực hiện y lệnh và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh. Có nhiều cách phân loại khác nhau, và mỗi cách phân loại đều có ưu nhược điểm riêng. Tác giả Linda Strand và các cộng sự đã xây dựng hệ thống phân loại DRP đầu tiên.
Hệ thống này bao gồm 8 nhóm: - Vấn đề thuốc không được kê đơn - Kê đơn sai thuốc - Thuốc có liều dùng quá thấp - Thuốc có liều dùng quá cao - Tác dụng không mong muốn của thuốc 4 - Tương tác thuốc - thuốc, thuốc - thức ăn hoặc thuốc - thiết bị y tế - Bệnh nhân không nhận được thuốc đã được kê đơn - Bệnh nhân nhận được thuốc có chỉ định không phù hợp [54]. Hiệp hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kì (American Society of Hospital Pharmacists – ASHP) phân loại DRP thành các nhóm như sau: [27] - Kê đơn thuốc không phù hợp với bệnh - Liều lượng thuốc, dạng bào chế, thời điểm, đường dùng hoặc cách dùng thuốc không phù hợp. - Trùng thuốc - Dị ứng thuốc - Các tác dụng phụ thực tế và tiềm ẩn của thuốc - Tương tác thuốc - thuốc, thuốc - thức ăn hoặc thuốc - thiết bị y tế có ý nghĩa lâm sàng - Can thiệp điều trị không thích hợp - Chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc điều trị - Chi phí dùng thuốc trên bệnh nhân - Bệnh nhân thiếu nhận thức về phương pháp điều trị - Bệnh nhân không tuân thủ điều trị. Năm 2011, Hội Dược sĩ Úc ban hành hướng dẫn thực hành dược lâm sàng, theo đó các DRP được phân chia thành các nhóm như Bảng 1.
Phân loại DRP theo Hội Dược sĩ Úc Phân nhóm Nội dung Trùng lặp Tương tác thuốc Sai thuốc Lựa chọn thuốc Liều/dạng bào chế không chính xác Chống chỉ định/không đúng chỉ định Vấn đề khác Liều cao/thấp Liều dùng Chỉ dẫn liều không rõ/không chính xác Vấn đề khác Điều trị không đầy đủ Điều trị quá dài/thất thường Tuân thủ điều trị Lạm dụng thuốc Sai đường dùng của dạng bào chế Vấn đề khác Không được điều trị đầy đủ Điều trị không đủ Không được điều trị/dự phòng Vấn đề khác Theo dõi lâm sàng/cận lâm sàng Giám sát điều trị Vấn đề khác Thông tin thuốc Giáo dục, tuyên truyền Thông tin bệnh Vấn đề khác Không phân loại được, độc tính và tác dụng phụ của thuốc 6 Hiệp hội chăm sóc dược Châu Âu phân loại các DRP gồm có 5 nhóm chính [59], cụ thể ở Bảng 1.2: Phân loại DRP theo PCNE Phân nhóm Nội dung P1. Hiệu quả điều trị Vấn đề P2. An toàn trong điều trị P3. Lựa chọn thuốc C2.
Thời gian điều trị Nguyên nhân C5. Bào chế thuốc C6. Quá trình sử dụng thuốc C7. Vấn đề liên quan đến bệnh nhân C8.
Không can thiệp I1. Can thiệp ở người kê đơn Kế hoạch can thiệp I2. Can thiệp ở bệnh nhân I3. Can thiệp ở thuốc I4.
Can thiệp được chấp nhận Chấp nhận can thiệp A2. Can thiệp không được chấp nhận A3. Vấn đề không xác định được O1. Vấn đề đã được giải quyết Tình trạng DRP O2.
Vấn đề được giải quyết một phần O3. Vấn đề chưa được giải quyết 7 1. Yếu tố nguy cơ của những vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc DRP xuất hiện trong quá trình điều trị sẽ gây ra những tác hại trên lâm sàng. Do đó việc xác định các yếu tố nguy cơ dẫn đến việc xuất hiện các vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc là quan trọng và cần thiết.
Có nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ dẫn đến sự xuất hiện của DRP, trong đó nổi bật là nghiên cứu của Carole Kaufman và các cộng sự vào năm 2015, nghiên cứu này đã tổng hợp các yếu tố nguy cơ xuất hiện DRP dựa trên các nghiên cứu khác trong y văn và kết hợp ý kiến thảo luận, đánh giá của các chuyên gia y tế [40]. Các yếu tố nguy cơ quan trọng: Yếu tố thuộc về bệnh nhân - Bệnh nhân sa sút trí tuệ, IQ thấp, kém nhận thức. - Thiếu thông tin về bệnh nhân, bệnh nhân không hiểu mục đích của việc điều trị - Bệnh nhân không tuân thủ điều trị - Bệnh nhân mắc nhiều bệnh cùng lúc. Yếu tố thuộc về thuốc - Sử dụng nhiều thuốc (>5 thuốc).
- Sử dụng thuốc chống động kinh, thuốc chống đông máu, insulin. - Sử dụng kết hợp thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và thuốc chống đông đường uống. - Sử dụng thuốc có khoảng điều trị hẹp. Các yếu tố nguy cơ tương đối quan trọng: Yếu tố thuộc về bệnh nhân - Bệnh nhân suy gan thận - Bệnh nhân suy giảm thị lực - Bệnh nhân không đọc được thông tin trên thuốc do khác ngôn ngữ.
- Bệnh nhân tự ý dùng các thuốc không được kê đơn. 8 Yếu tố thuộc về thuốc - Sử dụng các thuốc như digoxin, NSAIDs, lợi tiểu, đái tháo đường đường uống, corticoid, opioid, kháng cholinergic, benzodiazepin, chống trầm cảm 3 vòng. - Thuốc khó sử dụng - Tác dụng phụ của thuốc. Các vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc trong kê đơn DRP trong kê đơn gồm các vấn đề về lựa chọn thuốc, dạng thuốc, liều lượng và thời gian điều trị [59].
DRP lựa chọn thuốc: - C1.1: thuốc không phù hợp theo hướng dẫn.2: thuốc có trong hướng dẫn nhưng bệnh nhân bị chống chỉ định.3: không có chỉ định sử dụng thuốc - C1.4: phối hợp thuốc – thuốc hoặc thuốc - dược liệu không phù hợp.6: có chẩn đoán nhưng không có corticoid điều trị - C1.7: dùng quá nhiều loại thuốc cho cùng một chỉ định. DRP về dạng thuốc - C2.1: dạng thuốc không phù hợp cho bệnh nhân. DRP về liều lượng - C3.1: liều quá thấp - C3.2: liều quá cao - C3.3: chế độ dùng thuốc không đủ thường xuyên - C3.4: chế độ dùng thuốc quá thường xuyên - C3.5: hướng dẫn thời gian dùng thuốc sai hoặc không rõ ràng DRP về thời gian điều trị - C4.1: thời gian điều trị quá ngắn 9 - C4.2: thời gian điều trị quá dài. Một số nhóm thuốc thường xuất hiện DRP Có nhiều nghiên cứu trên thế giới thống kê về một số nhóm thuốc thường xuất hiện các vấn đề bất lợi liên quan đến thuốc.
Trong đó, có thể kể đến nghiên cứu của Akshaya Srikanth Bhagavathula và các cộng sự ghi nhận 10 thuốc dễ xuất hiện DRP, gồm có: - Thuốc chống nhiễm trùng - Thuốc tiêu hóa - Thuốc tim mạch - Thuốc điều trị các bệnh về máu - Thuốc giảm đau, hạ sốt - Thuốc chống viêm và corticoid - Thuốc về hệ thần kinh trung ương - Thuốc nội tiết - Vitamin - Thuốc hô hấp [53]. Nghiên cứu khác của Mohammed Biset Ayalew và các cộng sự thống kê một số thuốc dễ xuất hiện DRP gồm có: - Gentamycin - Warfarin - Nifedipin - Cimetidin - Simvastatin - Prednisolon - Digoxin [28]. Nghiên cứu của Salmeen D Babelghaith và các cộng sự về một số thuốc có khả năng xuất hiện DRP bao gồm: 10 - Kháng sinh - Kháng đông - Ức chế bơm proton - Statin - Chẹn kênh Calci - Lợi tiểu - NSAIDs - Ức chế men chuyển - Corticoid [29]. Tổng quan về corticoid 1.
Định nghĩa Corticoid hay còn gọi là corticosteroid có nguồn gốc tự nhiên và tổng hợp. Corticoid có nguồn gốc tự nhiên do vỏ thượng thận tiết ra, gồm có 2 loại là glucocorticoid và mineralocorticoid [32]. Trong đó, glucocorticoid do lớp bó (lớp giữa) tiết ra còn mineralocorticoid do lớp cầu (lớp ngoài cùng) tiết ra [7]. Corticoid tổng hợp gồm nhiều hoạt chất khác nhau.
Các hoạt chất thuộc nhóm corticoid gồm có cortison, hydrocortison, prednisolon, methylprednisolon, prednison, fluocinolon, triamcinolon, fluticason, beclomethason, betamethason, dexamethason, budesonid,. Dựa vào thời gian tác dụng mà corticoid được chia thành 3 nhóm: - Corticoid tác dụng ngắn (8 – 12 giờ): hydrocortison, cortison. - Corticoid tác dụng trung bình (12 – 36 giờ): fludrocortison, prednison, prednisolon, methylprednisolon, triamcinolon. - Corticoid tác dụng dài (36 – 72 giờ): betamethason, dexamethason [32].
Dược động học của corticoid Corticoid khi vào hệ tuần hoàn sẽ gắn kết thuận nghịch với α globulin đến 80%, 10% gắn với albumin và 10% còn lại ở dạng tự do có hoạt tính. 11 Corticoid chuyển hóa ở gan mất hoạt tính do tác động của enzym 11 β- hydroxysteroid dehydrogenase, sau đó chất này liên hợp với acid glucuronic hoặc sulfat để tạo các dẫn xuất dễ tan và ít gắn vào protein huyết tương, dễ bị thải trừ qua thận [17]. Tác dụng của corticoid Ở nồng độ sinh lý corticoid cần cho cân bằng nội môi, tăng sức chống đỡ của cơ thể với stress và duy trì các chức năng khác của cơ thể. Trên chuyển hoá Chuyển hoá glucid: corticoid làm tăng tạo glycogen ở gan, kích thích enzym gan tăng tạo glucose từ protein và acid amin.
Ngoài ra, còn làm tăng tổng hợp glucagon, giảm tổng hợp insulin và đối kháng với tác dụng của insulin vì vậy làm tăng đường huyết. Khi dùng lâu dài có thể gây tháo đưòng và làm nặng thêm tình trạng đái tháo đưòng. Chuyển hoá protid: corticoid ức chế tổng hợp protid, thúc đẩy quá trình dị hoá protid để chuyển acid amin từ cơ, xương vào gan và tân tạo glucose. Do đó khi dùng corticoid lâu ngày sẽ gây teo cơ, xốp xương, tổ chức liên kết kém bền vững [7], [17].
Chuyển hoá lipid: làm thay đổi phân bố lipid trong cơ thể: tăng tổng hợp mỡ ở thân, giảm tổng hợp mỡ ở chi. Khi dùng corticoid lâu dài, mỡ sẽ tập trung nhiều ở mặt, nửa thân trên gây hội chứng Cushing.