Chương I: TONG QUAN TÀI LIEU 1.Trên thế giới: Hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng đối với môi trường, kinh tế, xã hội, nên từ lâu đã được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: phân lọai, lâm học, tăng trưởng và sinh khối hệ sinh thái rừng ngập mặn, diễn thế, sinh lí, giải phẩu sinh lí thực vật. đặc biệt là lĩnh vực quản lí, phục hồi rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản, tài nguyên sinh vật và nh đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng ngập man. Trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Châu A đã thống kê được: 65 loài tảo, 491 loài động vật không xương ở nước, 520 loài động vật có xương, 300 loài cá, 117 loài chim, 229 loài thân mềm. trong tổng số 1918 loài sinh vật (thec Phan Nguyên Hồng, 1999)[8].
Ở Thái Lan, các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn đã thống kê được: 72 loài cây ngập mặn, 44 loài tảo 72 lòai cá, 37 loài tôm, 54 loài cua, 88 loài chim, 35 loài động vật có vú, 2! loài thân mềm, 38 loài côn trùng và sâu bọ. Ở An Độ các nhà khoa học đã thống kê được: 53 loài cây ngậi mặn, 47 loài tảo, 107 loài cá, 84 loài chim, 39 loài bò sát, 34 loài côn trùng vi sâu bo, 170 loài thân mềm. Các côn trình nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Philippine đã thống kê được: 8: loài cây ngập mặn, 72 loài tảo, 235 loài cá, 54 loài giáp xác, 63 loài thân mér (A. Ở Indonesia, khi nghiên cứu về khu hệ cá trong hệ sin _ thái rừng ngập mặn tác giả đã ghi nhận có 32 loài cá kinh tế quan trọng, tron Luận Văn Tốt Nghiệp - 2001 đó có 2 loài Apogon margaritiphorus và Gerres macrosoma chiếm ưu thế cùng với 56 loài giáp xác, 23 loài chân bụng (Subagjo Soemodihardjo, A.
6 Australia, khi nghiên cứu về phiêu sinh thực vật trong rừng ngập mặn, tác giả đã ghi nhận các loài tảo silic chiếm ưu thế trong thành phần loài phiêu sinh thực vật với các loài: Skeletonema costatum, Thalassionema nitzchioides, Asterionella japonra Chaetoceros abnormis, Coscinodisceus sp và thống kê được 128 loài cá thuộc 43 họ (Robertson, 1992)[24]. Nhìn chung các nước đều có nhiều công trình nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn trên nhiều Ïĩnh vực, do các nhà khoa học trong nước và ngoài nước thực hiện, dưới sự giúp đỡ, hổ trợ của chính phủ và các tổ chức quốc tế như: UNDP, UNEP, FAO, UNESCO.6 Viet Nam: Ở Việt Nam, cho đến nay ngoài thẩm thực vật được nghiên cứu kĩ, còn những nhóm sinh vật khác thì chưa được khảo sát có hệ thống (Nguyễn Hoàng Trí, 1999)[17]. Đặc biệt là hệ động vật có rất ít công trình nghiên cứu và nghiên cứu riêng lẻ (Phan Nguyên Hồng, 1991){5] - Ở Bến Tre, PTS. Phan Châu Hiển, 1999, [4] đã thống kê được: 185 loài thực vật nổi, trong đó tảo silic Bacillariophyta chiếm 79 %, 93 loài động vật nổi, 90 loài động vật đáy.
Tác giả còn cho biết vùng Bến Tre thuộc khu hệ cá biển Đông Nam Bộ: có 96 loài cá, trong đó có 63 loài cá nước mặn, 32 loài cá nước lợ, 3 loài cá nước ngọt. tác giả còn thống kê được 20 loài tảo gồm: 12 loài tảo biển và 8 loài tảo nước ngọt. Luận Văn Tốt N 2001 - Ở Xuân Thủy - Nam Hà, PTS. Nguyễn Hoàng Trí, 1995, [16] đã xác định có 110 loài thực vật phù du, 104 loài động vật phù du, vai trò quan trọng của động vật đáy trong việc phân huỷ mùn bã hữu cơ, là nguồn thức ăn phong phú cho các loài động vật ở các bậc dinh dưỡng cao hơn.
Tác giả cũng đã thống kê được hơn 1000 loài chim nhỏ chưa phân loại được và có 6 loài chim quí hiếm thường trú đông như: mong két (Anasfenelope), vịt mỏ thìa (A. clypeata), vịt đàn vàng (A. fenelope), vịt mốc (A. - Ở huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau: khi nghiên cứu về tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học rừng ngập mặn ở Ngọc Hiển, Lê Huy Bá và cộng sự đã thống kê được: 9 loài ếch nhái, 22 loài bò sát, 41 loài chim, 21 loài thú, 27 loài cá trong 74 loài cá được xác định ở tỉnh Ca Mau.
[1] - Khi nghiên cứu vé vai trò của rừng ngập mặn đối với tài nguyên sinh vật. Phan Nguyên Hồng đã nhận định: sau khi trồng — phục hồi rừng ngập mặn thì hệ động vật ở rừng ngập mặn huyện Cần Giờ -TPHCM ngày càng phong phú hơn với: 115 loài động vật đáy, 45 loài cá, 3 loài ếch nhái, 8 loàbò i sát, 37 loài chim, 6 loài thú (Phan Nguyên Hồng, 1996){7] và qua công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Lan (1999)[10] đã ghi nhận có khoảng 427 loài tảo tại các thủy vực thuộc huyện Cần Giờ: 36 loài động vật thân mềm _ kết quả nghiên cứu của PTS. - Ở Minh Hải qua điều tra sơ bộ vùng rừng ngập mặn có 64 loài cá (Yên, 1986), 25 loài tôm (Thương, 1990) (trích từ Phan Nguyên Hồng, 1999).[8] Trong lĩnh vực nghiên cứu về hệ động vật tuy còn riêng lẻ, chưa có hệ thống nhưng đã góp phần đánh giá được nguồn tài nguyên sinh vật và đa dạng —= Luận Văn Tốt Nghiệp - 2001 sinh học trong vùng rừng ngập mặn Việt Nam. Đây là một trong những động lực thúc đẩy các nhà khoa hoc trong nước nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa hệ sinh thái rừng ngập mặn với nuôi trồng hải sản, tài nguyên sinh vật và tính đa dạng sinh học trong vùng rừng ngập mặn.
Từ sau phong trào phá rừng ngập mặn làm 44m nuôi tôm rim rộ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đến môi trường, kinh tế, xã hộ, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu như: - Các công trình nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng: + Một số kết quả nghiên cứu tình hình diễn thế rừng ngập mặn ở các cửa sông Cửu Long và những kiến nghị để sử dụng hợp lí môi trường rừng ngập mặn để nuôi tôm (1980). + Cơ sở khoa học của việc nuôi tôm xuất khẩu (1984, cùng với PTS.Nguyễn Hoàng Trị). + Rừng ngập mặn và nguồn lợi thuỷ sản (1987). + Đánh giá tình hình nuôi tôm quảng canh trong vùng rừng ngập mặn ven biển Việt Nam.
Các hậu quả sinh thái. Biện pháp cải tiến để có năng suất cao, (1993). + Tài nguyên thủy hải sản. Hiện trạng và hậu quả do tác động của con người (1996).
- Tran Trọng Lưu với báo cáo: Bước đầu tìm hiểu vé mối quan hệ giữa hệ sinh thái rừng ngập mặn với các phương thức nuôi tôm quảng canh và bán thâm canh ở đồng bằng sông Cửu Long.[13] - Vũ Duy Kiểm với báo cáo tình hình nuôi trong và khai thác thuỷ sản ở vùng ven biển có rừng ngập mặn ở tỉnh Nam Hà.[9] za Luận Văn Tốt Nghiệp - 2001 - GS. Đoàn Cảnh và cộng sự với báo cáo: Tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với tính đa dang sinh học ở rừng ngập mặn cửa sông ven biển Nam Bộ.[2] Nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vai trò của cây ngập mặn trên các đầm tôm bỏ hoang. Luận Văn Tốt Nghiệp - 2001 Chương II: ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2. Vj trí địa lí: Cần Giờ là một huyện ở phía Nam của TPHCM, có tổng diện tích 71.361 ha, chia ra 7 xã, rừng chia thành 24 tiểu khu.
Lâm Viên Can Giờ thuộc tiểu khu 17, có diện tích 2.214 ha, nằm ở phía Tây Nam huyện Cần Giờ, thuộc phạm vi hành chính xã Long Hòa. - Tọa độ địa lý: + 106°51°45°' — 106°53°58' Kinh Đông. - Ranh giới: + Phía Đông giáp tuyến đường Nhà Bè _ Sài Gòn. + Phía Tây giáp sông Đồng Tranh.
+ Phía Nam giáp sông Đồng Hòa. + Phía Bắc giáp sông Hào Võ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 5 44m nuôi tôm bỏ hoang (đầm 6, đầm 7, đầm 8, đầm 9, đầm 10: có diện tích 2 ha/ đầm), đầm nuôi tôm công nghiệp (diện tích 2 ha), đầm nuôi tôm bỏ hoang không trồng cây (diện tích 4 ha) thuộc Lâm viên Cần Giờ theo sơ đồ hình 1. 5 đầm nuôi tôm bỏ hoang trước kia là đầm nuôi tôm bán công nghiệp (1991 _ 19993), được xây dựng sau khi phá rừng ngập mặn, sau vài năm môi trường đầm bị thoái hoá, nuôi tôm thất bại và bị bỏ hoang từ năm 1993 _ 1996.
Tháng 11/1996 trên các đầm này được trồng lại một số loài cây ngập mặn kết hợp với nuôi tôm theo lối quảng canh tự nhiên. - Đầm 10: Được tréng dung (Rhizophora mucranata) thuộc họ Đước (Rhizophoraceae) và cóc trắng (Lumnitzera racemora) thuộc họ Bang (Combretaceae). - Đầm nuôi tôm công nghiệp: không trồng cây. - _ Đầm nuôi tôm bỏ hoang: chỉ có cd san sát (Paspalum vaginicum) thuộc ho hòa thảo (Poaceae) và cd sam (Sesuvium portulacastrum) thuộc họ Alzcaceae 2.
Khí hậu: Khu vực nghiên cứu cũng mang những đặc điểm chung của khí hậu Cần Giờ, mang tính nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa nắng rõ rệt: Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, gió hướng Tây Nam. Mùa nắng: từ tháng 11 đến tháng 4, gió hướng Đông Nam. Các số liệu về nhiệt độ, ẩm độ, tổng lượng mưa được trình bay ở bảng 1.Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 26,85°C. Nhiệt độ cao nhất là 34.
Nhiệt độ thấp nhất là 19. Ẩm độ: Ẩm độ trung bình: 80. Ẩm độ thấp nhất: 46%. Ầm độ cao nhất: 99%, -10- Luận Văn Tốt Nghiệp - 2001 Mùa mưa ẩm độ: 78 - 82%.
Mùa nắng ẩm độ: 78 -84%. Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm đạt 1200 — 1603 mm/năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7, đạt 2889 mm/ năm. Lượng mưa thấp nhất vào tháng 3, đạt 18 mm/năm.
Tháng 1, tháng 2 hầu như không mưa. Lượng mưa phân bố không đều, thay đổi theo vị trí và thời gian. Lượng mưa giảm dan từ Bắc xuống Nam, tăng dan theo hướng Đông Nam _ Tây Bắc. Chế độ ngập triều: Khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triểu không đều với hai lần nước lớn, hai lần nước ròng.
Từ đầm 6 - dim 10 ngập 20 -30 cm khi triểu lên và 5 - 10 cm khi triểu xuống. Dòng chảy: Phần lớn sông rạch khu vực Can Giờ chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với dạng uốn lượn. Trong các con rạch nhỏ như khu vực Lâm viên, dòng chảy theo hướng từ Tây sang Đông. Hai con sông chỉ phối phần lớn chế độ thuỷ văn là sông Lòng Tàu và sông Soài Rạp, các kênh rạch khác nước biển được đưa vào từ sông Đồng Tranh.
-11- Luận Văn Tốt N - 2001 Bảng 1: Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm khu vực Cần Giờ năm 2000.