CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những quan điểm về lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn Trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ đất ngập nước nói chung và rừng ngập mặn nói riêng, gợi cho nhiều người là những nơi ít mang lại lợi ích kinh tế, là nơi tiềm ẩn những bệnh như sốt rét v. chính những quan niệm này mà chúng như là những vùng bỏ đi đã dẫn đến việc biến đổi chúng để chuyển sang những mục đích sử dụng khác phục vụ cho các hoạt động về kinh tế như nuôi tôm, cá, các loài nhuyễn thể, mục đích nông nghiệp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngày càng tăng nhận thức rằng rừng ngập mặn cung cấp miễn phí rất nhiều chức năng quan trọng (như phòng tránh thiên tai, ổn định bờ biển, hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm, hồi phục nước ngầm v.) các sản phẩm như tôm, cua, cá, các động vật đáy, củi đốt, gỗ, trầm tích giàu chất dinh dưỡng dùng cho nông nghiệp và đa dạng sinh học, vẻ đẹp thẩm mỹ, di sản văn hóa, dự trữ sinh quyển.
Hệ sinh thái RNM cũng được mô tả như là những quả thận của phong cảnh vì các chức năng mà nó có thể thực hiện trong các chu kỳ hóa học và thủy văn và như là các siêu thị sinh học vì có các mạng thực phẩm rộng lớn và tính đa dạng sinh học giầu có [10]. Đối với những sản phẩm như tôm, cua, cá, các loài nhuyễn thể hoặc gỗ thì có thị trường thế giới cho phép dễ dàng lượng giá giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn hay nói một cách khác là xác định các giá trị kinh tế của chúng trên thị trường là không khó. Giá trị của các chức năng hệ sinh thái RNM, như cải thiện chất lượng nước, có thể tính được từ chi phí xây dựng trạm xử lý nước để thực hiện các công việc như vậy. Nhưng việc lượng giá đa dạng sinh học hoặc vẻ đẹp thẩm mỹ của RNM là rất khó, đặc -4- biệt là lượng giá kinh tế bằng những phương pháp truyền thống là khó hơn nhiều [32].
Với sự tham gia của tất cả các loài sinh vật trong điều kiện môi trường cụ thể, các quá trình cơ bản cũng như các quy trình và sản phẩm vận động trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn. Điều này vô cùng quan trọng đối với quá trình lượng giá, chẳng hạn như vai trò tích lũy hay thải CO2 của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Sự tham gia vào các quá trình này không phải chỉ có cây ngập mặn hay tảo mà còn có các sinh vật đất, trầm tích và nước, cả trong quá trình tự dưỡng cũng như dị dưỡng [40]. Trên quan điểm kinh tế sinh thái học thì hiệu quả về mặt môi trường sinh thái của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị kinh tế.
Thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần làm giảm những chi phí cần thiết để làm ổn định môi trường tạo ra sự tồn tại cho xã hội con người, tự nhiên, duy trì, cải thiện năng suất của hệ sinh thái và nhiều hoạt động kinh tế khác trong xã hội. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới, tuy lĩnh vực nghiên cứu còn non trẻ nhưng cũng đã có nhiều công trình lượng giá kinh tế hệ sinh thái đất ngập nước như ở Anh, Mỹ, Malaysia, Philippin, Australia, Thụy Điển, Argentina Năm 1997, khái niệm về lượng giá kinh tế đất ngập nước do Tiến sĩ Mike Acreman đề xuất khi ông làm việc tại chương trình đất ngập nước của IUCN. Cũng trong năm này, Tiến sĩ Michele Beetham thuộc bộ môn Kinh tế và Quản lý môi trường, Đại học Tổng hợp York, khi đang làm việc với IUCN đã đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu và các nghiên cứu lượng giá đất ngập nước và những ý tưởng ban đầu [1].
-5- Tại hội nghị ở Brisbane, Australia tháng 3 năm 1996, các bên tham gia Công ước về đất ngập nước đã thông qua một kế hoạch, chiến lược thừa nhận tầm quan trọng và sự khẩn cấp tiến hành các phần việc trong lượng giá kinh tế đất ngập nước. Chiểu theo mục tiêu hoạt động 2.4 của Kế hoạch chiến lược, Công ước Ramsar sẽ xúc tiến việc lượng giá kinh tế những nguồn lợi và chức năng của đất ngập nước thông qua truyền bá các phương pháp lượng giá. Brawn (1980) và cộng sự, đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng Carbon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu Á là 144 tấn C/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1m, tương đương 42 - 43 tỷ tấn Carbon trong toàn châu lục. Tuy nhiên, lượng Carbon có biến động rất lớn giữa các vùng và các kiểu thực bì khác nhau.
Thông thường, lượng Carbon trong sinh khối biến động từ dưới 50 tấn/ha đến trên 360 tấn/ha, phần lớn ở các kiểu rừng là 100 - 200 tấn/ha.N (1990), đã tiến hành nghiên cứu đánh giá lợi ích kinh tế tại chỗ của hệ sinh thái rừng ngập mặn Fiji, bằng việc áp dụng cách tiếp cận dựa trên nguồn thu nhập, phương pháp chi phí thay thế và trao đổi quyền sử dụng phi thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi ích ròng sinh kế của người dân địa phương trong sử dụng sản phẩm thủy sản tại chỗ trong vùng rừng ngập mặn hầu như tương đương với các sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Trong trường hợp sử dụng lâm sản thì lợi ích ròng sinh kế tại chỗ lớn hơn thương mại. Tuy nhiên, những giá trị sinh kế không tính được thành tiền chưa đưa được vào công trình đánh giá này [23].
-6- WWF (1994), đã tiến hành nghiên cứu vùng rừng ngập mặn tại Costa Rica. Nghiên cứu đã sử dụng lượng giá kinh tế hệ sinh thái RNM làm công cụ xây dựng chính sách khôi phục và bảo tồn HSTRNM trước những sức ép ngày càng gia tăng từ phát triển kinh tế, đặc biệt xu hướng chuyển đổi đất rừng ngập mặn sang nuôi tôm và các loài thủy sản khác. Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn đã dựa trên cách tiếp cận tổng giá trị kinh tế (TEV). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra giá trị sử dụng trực tiếp từ việc đánh bắt các tài nguyên từ RNM [41].
Nghiên cứu về rừng tràm ngập nước trên đất đầm lầy than bùn ở Malaysia đã sử dụng công cụ lượng giá kinh tế theo cách tiếp cận tổng giá trị kinh tế (TEV) để so sánh hiệu quả các giải pháp quản lý rừng trong phát triển bền vững. Kết quả cho thấy tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái tùy thuộc các giải pháp quản lý khác nhau từ không bền vững đến bền vững theo các mô hình dự báo [22]. Jansen (1998), đã tiến hành nghiên cứu rừng ngập mặn tại Philippin. Kết quả công trình nghiên cứu đã đánh giá hậu quả của việc chuyển đổi 110,7 ha rừng ngập mặn tự nhiên tại Pagbilao thành các đầm nuôi thủy sản và hiệu quả giải pháp sử dụng mô hình kết hợp trồng rừng ngập mặn với nuôi thủy sản.
Kết quả cho thấy các đầm nuôi bán thâm canh cho năng suất cao nhất [21]. Nghiên cứu về rừng ngập mặn ở Thái Lan được thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp phân tích kinh tế chi tiết dựa trên kỹ thuật lượng giá để đánh giá những lợi ích của hệ sinh thái RNM đã mất so sánh với lợi nhuận từ việc chuyển đất rừng ngập mặn thành đầm nuôi tôm. Tổng giá trị kinh tế bao gồm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị phi sử dụng rất khó xác định và lượng giá, được chia thành giá trị tồn tại và giá trị cho đời sau [36].
Ở Việt Nam Mazda và cộng sự (1997), tiến hành nghiên cứu về tác dụng giảm sóng của rừng ngập mặn đã được thực hiện tại vùng RNM mới trồng của tỉnh Thái Bình, với các loài cây chủ yếu là cây trang (Kendelia candel). Kết quả cho thấy, RNM góp phần làm giảm đáng kể áp lực của sóng biển trước khi tác động vào đê biển [26]. Nghiên cứu rừng ngập mặn Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp tổng giá trị kinh tế RNM được đánh giá dựa trên những số liệu thu thập trên thực địa. Kết quả cho thấy tổng giá trị kinh tế nguồn lợi RNM về lợi ích sử dụng trực tiếp, các giá trị gián tiếp hầu như chưa lượng giá được [37].
Nguyễn Hoàng Trí và cộng sự (2002) đã tiến hành xây dựng khung phân tích để lượng giá tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái RNM Cần Giờ TPHCM nhằm làm rõ giá trị của khu dự trữ sinh quyển đối với lợi ích cộng đồng địa phương. Kết quả đạt được cho thấy tổng lợi ích ròng sử dụng trực tiếp từ RNM đã tăng lên đáng kể [29]. Dự án giống cây rừng (VTSP) và Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp tính toán thử về khả năng cố định CO2 của thông 3 lá. Dựa vào biểu sinh khối & biểu sản lượng, tính toán cho lâm phần 60 tuổi cấp đất III (có D = 40 cm, H = 27,6m, f1,3 = 0,44, G = 48,3 m2, M = 586 m3/ha.
Phương pháp tính toán sinh khối W = - 10,144 + 0,07148 G2 + 4,100H + 0,12336 HG. Sai số giữa tính theo biểu sản lượng và biểu sinh khối 1,4%. Kết quả là thông ba lá, 60 tuổi cấp đất III có thể hấp thu 707,75 tấn CO2, giải phóng 514,53 tấn O2. Với giá 4 USD/tấn CO2 sẽ thu được 2.831 USD/ ha ở tuổi 60.
Nếu bán gỗ 120 m3/ha được 41 triệu USD 2. Năm 2003, Bộ Tài nguyên & Môi trường – Cục Bảo vệ Môi trường đã cho xuất bản cuốn sách Lượng giá kinh tế đất ngập nước (hướng dẫn cho -8- những nhà lập kế hoạch và ra chính sách), do ban thư ký Công ước Ramsar biên soạn, cuốn sách đã đưa ra được các nội dung cơ bản của việc nghiên cứu lượng giá kinh tế đất ngập nước, cũng như các phương pháp cơ bản tiến hành nghiên cứu lượng giá kinh tế đất ngập nước. Cuốn sách này chứa đựng nhiều thông tin hữu ích, nhiều kỹ thuật lượng giá kinh tế có sẵn được dùng để lượng giá các vùng đất ngập nước. Sách hướng dẫn đã nêu lên tầm quan trọng của việc cân đối giữa những lợi ích có được nhờ phát triển với những thiệt hại mà quá trình phát triển có thể gây ra cho đất ngập nước.
Lượng giá kinh tế một số vùng đất ngập nước điển hình ven biển Việt Nam. Kết quả cho thấy vùng bãi triều Tây Nam Cà Mau đạt giá trị cao nhất (tổng giá trị kinh tế cho 1 ha đất ngập nước là 4.