Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Mô hình nghiên cứu và nguồn dữ liệu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG 2.1 Lý thuyết Đánh đổi (Trade-off theory) Lý thuyết Đánh đổi về cấu trúc vốn trình bày ý tưởng rằng một công ty lựa chọn sử dụng bao nhiêu nguồn tài trợ từ nợ và bao nhiêu nguồn tài trợ từ vốn chủ sở hữu bằng cách cân bằng giữa chi phí và lợi ích. Phiên bản cổ điển của giả thuyết quay lại với Kraus và Litzenberger (1973), những người đã xem xét sự cân bằng giữa chi phí nghiêm trọng do phá sản và lợi ích tiết kiệm thuế của nợ. Thường thì chi phí đại lý cũng được bao gồm trong số dư.
Lý thuyết này thường được coi là lý thuyết đối thủ cạnh tranh với lý thuyết về trật tự cấu trúc vốn. Ai, Frank và Sanati (2021) cung cấp một bài đánh giá về lý thuyết Đánh đổi và bằng chứng hỗ trợ của nó. Mục đích quan trọng của lý thuyết là giải thích thực tế rằng các doanh nghiệp thường được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu chỉ một phần, phần còn lại là từ vốn vay nợ. Lý thuyết Đánh đổi chỉ rõ lợi ích và chi phí khi một doanh nghiệp sử dụng vốn vay.
Cụ thể, các doanh nghiệp sẽ nhận được lợi ích về thuế từ vốn nợ, đồng thời cũng gánh chịu những chi phí tài trợ bằng vốn nợ. Lợi ích cận biên của việc vay nợ sẽ giảm xuống khi nợ gia tăng, trong khi chi phí cận biên lại tăng lên. Do đó, một doanh nghiệp muốn tối ưu hóa giá trị công ty sẽ tập trung vào sự đánh đổi này khi lựa chọn sử dụng bao nhiêu vốn chủ sở hữu và bao nhiêu vốn vay nợ để tài trợ cho các hoạt động của công ty.2 Lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking order theory) Trong tài chính doanh nghiệp, lý thuyết Trật tự phân hạng cho rằng chi phí tài chính của một doanh nghiệp sẽ gia tăng khi xuất hiện hiện tượng thông tin bất cân xứng. Nguồn vốn hoạt động của một doanh nghệp thường đến từ ba nguồn 8 sau: nguồn vốn nội bộ hiện tại, vốn nợ và vốn chủ sở hữu mới (phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động vốn).
Theo lý thuyết này, chi phí sử dụng vốn của ba nguồn vốn này là khác nhau. Cụ thể, nguồn vốn nội bộ hiện hữu có chi phí sử dụng vốn thấp nhất, kế đến là vốn vay nợ và cuối cùng là vốn chủ sở hữu mới có chi phí sử dụng vốn cao nhất. Vì vậy, thứ tự sử dụng ( hay trật tự phân hạng) các nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp nên như sau: đầu tiên là vốn nội bộ hiện hữu, rồi đến vốn vay và cuối cùng là vốn chủ sở hữu mới.3 Lý thuyết Định thời điểm thị trường (Market timing theory) Ra đời sau so với lý thuyết Đánh đổi và lý thuyết Trật tự phân hạng, lý thuyết Định thời điểm thị trường là một lý thuyết giải thích cách các công ty và tập đoàn trong nền kinh tế quyết định tài trợ cho các khoản đầu tư của họ với vốn tự có hay phát hành các chứng khoán nợ. Ý tưởng của lý thuyết này đã xuất hiện từ rất lâu trong các nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp.
Tuy nhiên, lý thuyết này thật sự ra đời và thu hút được sự chú ý là bởi nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002). Hai tác giả này tìm thấy rằng thời điểm thị trường là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay nợ và vốn chủ sở hữu của một công ty. Chi tiết hơn, đối với một doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vay hay vốn chủ sở hữu là ngang nhau (điều này khác biệt so với lý thuyết Trật tự phân hạng khi cho rằng vốn vạy được ưu tiên hơn vốn chủ sở hữu). Các doanh nghiệp lựa chọn nguồn vốn bên ngoài nào để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ phụ thuộc vào nguồn vốn nào đang có chi phí sử dụng thấp hơn tại thời điểm huy động vốn.
Thời điểm thị trường đôi khi được phân loại như một phần của tài liệu tài chính hành vi, bởi vì nó không giải thích tại sao lại có bất kỳ sự định giá sai tài sản nào hoặc tại sao các công ty có thể biết được khi nào có sự định giá sai so với thị trường tài chính. Thay vào đó, nó chỉ giả định rằng những định giá sai này tồn tại và mô tả hành vi của các công ty theo giả định thậm chí mạnh mẽ hơn rằng các 9 công ty có thể phát hiện ra việc định giá sai này tốt hơn thị trường có thể. Tuy nhiên, bất kỳ lý thuyết nào với chi phí và lợi ích thay đổi theo thời gian đều có khả năng tạo ra các quyết định ban hành của công ty thay đổi theo thời gian. Điều này đúng cho dù những người ra quyết định là hành vi hay lý trí.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN Các bài nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp đã xác định được nhiều nhân tố tiềm năng có thể ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của một doanh nghiệp.
Harris và Raviv (1991) chỉ ra một sự đồng thuận trong nhiều nghiên cứu rằng cơ cấu vốn của một doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với quy mô của doanh nghiệp, tài sản cố định, tốc độ tăng trưởng và lá chắn thuế đã loại bỏ nợ: Ngược lại, cấu trúc vốn có mối quan hệ ngược chiều với lợi nhuận, sự biến động giá chứng khoán, chi tiêu cho quảng cáo, xác suất phá sản và tính độc đáo của sản phẩm. Trong số các yếu tố được liệt kê, Rajan và Zingales (1995) chọn bốn nhân tố quan trọng, bao gồm tài sản cố định của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế, để đưa vào mô hình nghiên cứu vì chiều tác động của các nhân tố này lên cấu trúc vốn của một doanh nghiệp là nhất quán trong nhiều nghiên cứu trước đó. Tương tự, Frank và Goyal (2009) chỉ ra rằng, xét ở cấp độ công ty, những nhân tố cấu trúc vốn đáng tin cậy nhất chính là tài sản cố định của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và lợi nhuận sau thuế. Xét ở cấp độ vĩ mô, những nhân tố cấu trúc vốn quan trọng bao gồm lạm phát và tình hình thị trường tại thời điểm nghiên cứu.
Chính vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ tập trung điều tra tác động của các nhân tố cấu trúc vốn tiềm năng sau đây: tài sản cố định, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận sau thuế, lạm phát và tình hình thị trường.1 Cấu trúc vốn và tài sản cố định (nature of assets) Các tài sản cố định, chẳng hạn như bất động sản, máy móc thiết bị, nguyên vật 10 liệu…, dễ được định giá hơn so với các tài sản vô hình, ví dụ như thương hiệu, lợi thế thương mại…, vì vậy tài sản cố định có thể làm giảm chi phí khánh kiệt tài chính (cost of financial distress) của một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tài sản cố định thường được các ngân hàng sử dụng làm tài sản đảm bảo để cung cấp các khoản vay cho doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp có nhiều tài sản cố định được kỳ vọng có tỷ lệ vốn vay cao hơn so với các doanh nghiệp có ít tài sản cố định hơn.2 Cấu trúc vốn và quy mô doanh nghiệp (firm size) Các công ty có quy mô lớn sẽ đối mặt với rủi ro vỡ nợ thấp hơn so với các công ty có quy mô nhỏ vì các công ty lớn thường có thị phần lớn, ổn định và ngành nghề hoạt động đa dạng hơn. Do đó, lý thuyết Đánh đổi cho rằng các công ty lớn hơn sẽ sử dụng nhiều vốn vay nợ hơn các công ty nhỏ vì chi phí sử dụng vốn vay của các công ty lớn sẽ thấp hơn do có rủi ro thấp hơn.3 Cấu trúc vốn và tốc độ tăng trưởng (Growth) Sự tăng trưởng sẽ làm gia tăng chi phí của khó khăn tài chính, làm giảm các vấn đề liên quan đến dòng tiền tự do và làm xấu đi những vấn đề về người đại diện liên quan đến nợ.
Đồng thời, các công ty đang tăng trưởng sẽ chú trọng sử dụng vốn đầu tư của các bên liên quan. Do đó, lý thuyết Đánh đổi chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn và tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp. Trong khi đó, lý thuyết Trật tự phân hạng dự báo rằng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp sẽ tăng dần theo thời gian khi công ty đó tiến hành đầu tư nhiều hơn. Lý do là vì vốn nợ được ưu tiên sử dụng trước vốn chủ sở hữu do chi phí sử dụng thấp hơn.
Vì vậy, lý thuyết Trật tự phân hạng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn của tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp. Adam và Goyal (2008) tìm thấy rằng tỷ lệ giá thị trường trên giá trị sổ sách của tài sản là một đại lượng đáng tin cậy để đo lường tốc độ tăng trưởng của một doanh nghiệp.4 Cấu trúc vốn và lợi nhuận (Profit) Chi phí khánh kiệt tài chính sẽ nhỏ hơn đối với các doanh nghiệp tạo ra được khoản lợi nhuận sau thuế lớn hơn. Đồng thời, lá chắn thuế từ lãi phải trả cũng sẽ có giá trị hơn đối với những doanh nghiệp làm ăn có lãi so với những doanh nghiệp thua lỗ. Vì vậy, theo dự đoán của lý thuyết Đánh đổi, tỷ lệ sử dụng vốn vay các doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ cao hơn so với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Khi tiến hành huy động những khoản vay, các doanh nghiệp đi vay phải chịu sự giám sát của những chủ thể cung cấp các khoản vay, ví dụ từ phía ngân hàng, trong việc sử dụng các nguồn vốn để hoạt động. Những vấn đề về dòng tiền tự do thường nghiêm trọng hơn đối với doanh nghiệp làm ăn có lãi so với doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vì những doanh nghiệp làm ăn có lãi thường sẽ có dòng tiền tự do lớn hơn (Jensen, 1986). Vì vậy, quan điểm về người đại diện cho rằng sự giám sát từ người cho vay sẽ có giá trị hơn đối với các công ty làm ăn có lãi, theo đó dự báo mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận.