Chương 1: Giới thiệu về đề tài. Chương 2: Nghiên cứu tác động của những nhân tố vĩ mô đến cấu trúc vốn động của các công ty niêm yết – bằng chứng các nước trên thế giới. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đó về cấu trúc vốn động và các nghiên cứu trên thế giới về tác động của các nhân tố vĩ mô đến cấu trúc vốn động. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Ở chương này, tác giả trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Các nội dung được trình bày ở chương này làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo ở Chương 4. -4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 4: Nghiên cứu tác động của những nhân tố vĩ mô đến cấu trúc vốn động của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Trong chương này, tác giả ước lượng tỷ lệ nợ theo các nhân tố vĩ mô và các nhân tố đặc trưng của công ty bằng mô hình những ảnh hưởng cố định (fixed-effects) để tìm ra mối tương quan giữa tỷ lệ nợ và các nhân tố này.
Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu. -5- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2 – NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN CẤU TRÚC VỐN ĐỘNG 2. Các lý thuyết cấu trúc vốn nền tảng Modigliani và Miller (1958) đã đưa ra lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay và một phần bằng vốn cổ phần.
Lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ. Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình.
Bradley, Jarrell và Kim (1984) đã đưa ra bằng chứng về lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh điển hình, cụ thể là các công ty tăng tỷ lệ nợ cho đến khi lợi ích của mỗi đơn vị nợ tăng thêm bằng với chi phí nợ, bao gồm chi phí do khả năng kiệt quệ tài chính cao hơn do tăng tỷ lệ nợ. Vì vậy, các công ty cố gắng tiến đến cấu trúc vốn mục tiêu hay còn được gọi là điểm mục tiêu tĩnh. Công ty có thể đạt được tỷ lệ nợ mục tiêu khi giá trị biên của các lợi ích đi kèm với việc phát hành nợ bù đắp được hiện giá của chi phí tăng thêm do phát hành thêm nợ (Myers, 2001). Lý thuyết trật tự phân hạng được phát triển bởi Myers (1984).
Theo lý thuyết trật tự phân hạng, công ty thích tài trợ nội bộ hơn tài trợ bên ngoài. Nếu sử dụng tài trợ bên ngoài thì nợ được ưu tiên hơn vốn cổ phần. Myers cho rằng sự bất cân xứng thông -6- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tin và chi phí giao dịch vượt quá các ảnh hưởng tác động đến quyết định tỷ lệ nợ mục tiêu trong mô hình đánh đổi cấu trúc vốn. Để giảm thiểu chi phí tài chính này, công ty ưu tiên tài trợ cho các dự án đầu tư bằng dòng tiền mặt nội bộ.
Chỉ khi cần tài trợ thêm, công ty sử dụng vốn bên ngoài theo trình tự trước tiên là nợ an toàn, sau đó là nợ rủi ro và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần. Vì vậy, trái ngược với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng về dài hạn không tồn tại cấu trúc vốn mục tiêu. Không có sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần mục tiêu vì có hai loại nguồn tài trợ là lợi nhuận giữ lại và phát hành vốn cổ phần mới. Các nghiên cứu trên thế giới về cấu trúc vốn động và tác động của các nhân tố vĩ mô đến cấu trúc vốn động Trong lý thuyết cấu trúc vốn tĩnh, tỷ lệ nợ mục tiêu là không thay đổi theo thời gian.
Vì vậy, lý thuyết cấu trúc vốn tĩnh cũng chưa đề cập đến vấn đề về mức độ thay đổi lệ nợ do sự điều chỉnh của tỷ lệ nợ đến tỷ lệ nợ mục tiêu của các công ty. Do đó, các nhà nghiên cứu cấu trúc vốn động đã xem xét và đưa ra mô hình cấu trúc vốn động nhằm khắc phục các hạn chế của mô hình cấu trúc vốn tĩnh. Khác với lý thuyết cấu trúc vốn tĩnh, các nghiên cứu gần đây cho thấy sự tồn tại của tỷ lệ nợ mục tiêu thay đổi theo thời gian. Đồng thời, mô hình cấu trúc vốn động cũng xác định được tốc độ điều chỉnh tỷ lệ nợ của các công ty qua các thời điểm – đây là điểm mà lý thuyết cấu trúc vốn tĩnh chưa đề cập đến.
Stein Frydenberg (2003) trình bày mô hình thực nghiệm về cấu trúc vốn động trong bài “A dynamic Model of Corporate Capital Structure”. Tác giả thấy rằng khi sử dụng mô hình tĩnh để ước lượng các tham số, nếu tất cả các hệ số của bất kỳ biến trễ nào bằng 0 sẽ làm hạn chế các kỳ trước đó, vì vậy, các biến này không có tác động đối với tất cả sự điều chỉnh của hiện tại. Tác giả sử dụng phương pháp GMM (Generalized Method of Moments – phương pháp tổng quát hóa thời điểm) với tác động cố định (fixed-effects) để ước lượng mô hình dữ liệu bảng bao gồm 1.450 công ty sản xuất của Na Uy từ năm 1990 đến 2000 (gồm 14. Mỗi công ty gồm 10 quan sát liên tục.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ nợ năm trước -7- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có mối tương quan dương với tỷ lệ nợ năm sau của công ty, nghĩa là khi tỷ lệ nợ năm trước tăng sẽ làm cho tỷ lệ nợ năm sau tăng và ngược lại; và chỉ 27% tỷ lệ nợ thay đổi cho thấy tỷ lệ nợ điều chỉnh khá chậm. Doanh nghiệp chỉ điều chỉnh 28% tổng nợ và nợ dài hạn, trong khi nợ ngắn hạn và lãi dễ thay đổi hơn. Doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao hay thấp đều có khuynh hướng điều chỉnh tỷ lệ nợ về phía trung bình. Công ty đều cố gắng điều chỉnh về tỷ lệ nợ mục tiêu mặc dù công ty gặp hạn chế đối chi phí giao dịch và các hạn chế khi vay nợ nên khó có thể tiến sát tỷ lệ nợ mục tiêu.
Shinichi Nishioka, Naohiko Baba (2004) đã nghiên cứu cấu trúc vốn của 700 doanh nghiệp Nhật Bản từ đầu thập niên 1990 được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Tokyo trong bài “Dynamic Capital Structure of Japanese Firms: How Far Has the Reduction of Excess Leverage Progressed in Japan?”. Tác giả sử dụng mô hình điều chỉnh từng phần và hồi quy theo phương pháp GMM để xác định cấu trúc vốn động của các doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình cấu trúc vốn động trình bày rõ ràng hơn về cấu trúc vốn. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cơ cấu quản trị tác động đến tốc độ điều chỉnh tỷ lệ nợ.
Doanh nghiệp có xếp hạng tín dụng tốt hầu như đều giảm tỷ lệ nợ, trong khi doanh nghiệp có xếp hạng tín dụng thấp hơn xoay trở vất vả hơn để giảm gánh nặng chi phí nợ. Rangan (2005) nghiên cứu cấu trúc vốn động của các công ty phi tài chính trong bài “Partial adjustment toward target capital structures” và thấy rằng các công ty này theo đuổi tỷ lệ nợ mục tiêu trong thời kỳ nghiên cứu từ năm 1966 – 2001. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ mục tiêu phụ thuộc vào đặc trưng của công ty. Công ty có tỷ lệ nợ thực thấp hơn hay cao hơn tỷ lệ nợ mục tiêu đều điều chỉnh tỷ lệ nợ của họ tiến về tỷ lệ nợ mục tiêu đối với cả tỷ lệ nợ theo giá trị thị trường cũng như tỷ lệ nợ theo giá trị sổ sách.
Bên cạnh đó, tác giả thấy rằng các công ty nhanh chóng điều chỉnh về tỷ lệ nợ mục tiêu khi tỷ lệ nợ của họ rời khỏi tỷ lệ nợ mục tiêu. Các công ty rút ngắn khoảng cách tỷ lệ nợ của họ so với tỷ lệ nợ mục tiêu với tỷ lệ hơn 30% mỗi năm. -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hyesung Kim, Almas Heshmati và Dany Aoun (2006) nghiên cứu mô hình cấu trúc vốn động của các công ty sản xuất niêm yết ở Hàn Quốc với dữ liệu bảng không cân bằng từ năm 1985 đến 2002 trong bài “Dynamic of Capital Structure: The Case of Korean Listed Manufacturing Companies”. Theo sau các nghiên cứu trước, tác giả sử dụng mô hình cấu trúc vốn động truyền thống: đầu tiên là xác định cấu trúc vốn mục tiêu, sau đó là điều chỉnh về cấu trúc vốn mục tiêu của công ty.
Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu phi tuyến tính để ước lượng mô hình cấu trúc vốn động. Đồng thời, tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tuyến tính để ước lượng mô hình cấu trúc vốn tĩnh. Từ kết quả hồi quy hai mô hình cấu trúc vốn động và mô hình cấu trúc vốn tĩnh, tác giả xác định rằng mô hình động giải thích tốt hơn mô hình tĩnh về cấu trúc vốn. Bên cạnh việc xác định và ước lượng tác động của các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn, tác giả xem xét cấu trúc của các công ty trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997 và sự sáp nhập thành các tập đoàn gia đình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn mục tiêu bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng khoảng tài chính, các tập đoàn gia đình được sáp nhập điều chỉnh về cấu trúc vốn mục tiêu nhanh hơn các tập đoàn phi gia đình do đặc trưng về các yếu tố tác động cấu trúc vốn của các công ty này.