CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mô hình lecture/ seminar Phương pháp giảng dạy theo mô hình lecture/ seminar (bài giảng/ thảo luận) là phương pháp giảng dạy kết hợp giữa các buổi giảng dạy lý thuyết và các buổi thảo luận có hướng dẫn. Lớp lecture gồm 1 hoặc nhiều lớp học phần có quy mô không quá 300 sinh viên; lớp Seminar là lớp học phần có quy mô từ 20 đến 30 sinh viên. Thời lượng mỗi lớp lecture và lớp seminar chiếm 50% thời lượng học phần.
Giảng viên dạy lớp Lecture có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết kiến thức học phần. Giảng viên lớp Seminar có trách nhiệm đánh giá điểm chuyên cần, điểm đánh giá quá trình của sinh viên. Lớp lecture thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức cơ bản, giải thích các khái niệm. Còn lớp Seminar thường được thiết kế để kích thích sự tương tác đa chiều giữa sinh viên và giáo viên, cũng như giữa các sinh viên với nhau.
Thông qua các hoạt động như thảo luận nhóm, bài thực hành, hoặc giải quyết vấn đề, sinh viên có thể ứng dụng và hiểu sâu hơn về những kiến thức đã học. Mô hình kết hợp bài giảng truyền thống và hội thảo tập trung vào việc “lấy người học làm trung tâm”. Vai trò mới của giáo viên là tạo ra mối tương quan hiệu quả giữa các thành phần khóa học (bài giảng - hội thảo) (Almusaed, A. Cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình giảng dạy kết hợp bài giảng truyền thống và hội thảo này trong các bài nghiên cứu trước đây.
Nhìn chung, mô hình học tập mới này đều nhấn mạnh đến vai trò dẫn dắt của giảng viên và chuyên gia, và sự chủ động, sáng tạo của sinh viên trong học tập. Mô hình này được xây dựng để hướng tới những tác động tích cực tới hiệu quả học tập của người học. Hiệu quả học tập Kintu et al. (2017) cho rằng hiệu quả học tập của người học được đánh giá qua bốn khía cạnh: (1) hiệu suất học tập, (2) động lực, (3) sự hài lòng và (4) kiến thức tiếp thu được.
Không những vậy, hiệu quả học tập còn được thể hiện qua kỹ năng và thái độ của người học. Các kiến thức, kỹ năng này được tích lũy và phát triển từ mỗi tiết học trong suốt quá trình khóa học được quy định cụ thể trong chương trình đào tạo (Guay et al. Dưới góc độ của người học, hiệu quả học tập được đánh giá qua các giá trị và kết quả học tập mà người học cảm nhận được khi tham gia lớp học (Tsang et al. Theo Gray and DiLoreto (2016), để đo lường hiệu quả học tập tổng quát của người học, các nghiên cứu đo lường có thể đánh giá thông qua hành vi, thái độ và cảm nhận của người học trong các lớp học.
Bên cạnh đó, mức độ đạt được kết quả học tập của sinh viên trong các lớp học cũng được sử dụng để đo lường hiệu quả học tập. Như vậy, hiệu quả học tập được đo lường và đánh giá thông qua cảm nhận của người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ của các khóa học cũng như việc ứng dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn 1. Tổng quan nghiên cứu Xing-ju, W. (2013), đã thực hiện nghiên cứu về phương pháp giảng dạy truyền thống kết hợp với phương pháp dạy thảo luận trong giáo dục đại học.
Trong nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng, phương pháp giảng dạy truyền thống chỉ ra vai trò hướng dẫn của giáo viên là vô cùng quan trọng, cho phép sinh viên tiếp thu được nhiều kiến thức hơn. Nhưng phương pháp giảng dạy này lại làm mất đi tính chủ động và sáng tạo của họ”. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học hội thảo (seminar) là một phương pháp đang được chú ý và phổ biến ở châu Âu và Hoa Kỳ trong lớp học đại học. Đó là một lộ trình giảng dạy tương tác mà sinh viên thảo luận với giáo viên và chuyên gia để nghiên cứu một chủ đề nhất định.
Cốt lõi của nó là đào sâu tiềm năng học thuật của những người tham gia khóa học, phát huy tối đa sự tương tác hiểu biết đa góc độ và đa cấp độ. Sự kết hợp của hai phương pháp giảng dạy này đã nhấn mạnh vai trò hướng dẫn của giảng viên. Giáo viên có thể truyền tải thông tin từ dễ đến khó, giúp sinh viên tiếp thu được kiến thức, trong khi đó, sinh viên được phát huy tính chủ động học tập và năng lực tự học dưới sự dẫn dắt của giảng viên. Thông qua việc điều tra, phân tích và nghiên cứu trường hợp điển hình, các nhà nghiên cứu rút ra kết luận rằng phương pháp giảng dạy truyền thống và hội thảo có lợi trong việc nâng cao hiệu quả lớp học và nuôi dưỡng tính chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên.
Nghiên cứu này cho thấy mô hình giảng dạy kết hợp này nên được phát triển ở nền giáo dục Trung Quốc để nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên. (2011) kết quả học tập tại trường Đại học của sinh viên phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân (ví dụ như giới tính, tuổi tác, quốc gia xuất xứ) và thành tích trước đây của họ như Điểm Chứng chỉ Trung học (High School Certificate), Chỉ số Tuyển sinh Đại học (UAI), điểm Kinh tế và trình độ tiếng Anh, Toán đã hoàn thành ở trường trung học. Tuy nhiên, nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa việc tham gia bài giảng và buổi dạy kèm (lecture and tutorial) cũng như điểm số trong đơn vị định lượng năm đầu tiên - Giới thiệu về Phương pháp Kinh tế (IEM). Kết quả cho thấy việc tham gia đều đặn các buổi giảng và hướng dẫn ở trên lớp sẽ cải thiện rõ rệt điểm số của môn Toán HSC tại trường Kinh tế và tài chính.
Do đó, việc đi học tối thiểu có thể coi là bắt buộc để sinh viên xem việc đi học đều và tham gia các buổi giảng, hướng dẫn ở trường là một phần trong đánh giá của họ. Đồng thời, giảng viên cũng nên tạo ra một môi trường học tập tốt, khuyến khích sinh viên và thu hút sự quan tâm của họ vào khóa học. Từ đó nâng cao được hiệu quả dạy và học trong bộ môn đó. Trong nghiên cứu của Sundbom, M.
(2021) về một chủ đề kết hợp mới, kết hợp các bài giảng và hội thảo tình huống (lectures and case-seminars), dẫn đến sự đánh giá cao từ sinh viên y khoa và giáo viên đại học. Do xếp hạng của sinh viên giảm, một phương pháp giảng dạy mới đã được áp dụng cho khóa học về bệnh tiêu hóa dành cho sinh viên y khoa đại học. Học tập dựa trên vấn đề đã được thay thế bằng một khái niệm mới, bao gồm một tuần lý thuyết với các bài giảng truyền thống và hội thảo tình huống. Trong nghiên cứu này, các tác giả so sánh đánh giá của học sinh từ thời kỳ học tập dựa trên vấn đề với một khái niệm kết hợp mới.
Học sinh đánh giá các khái niệm bằng cách xếp hạng (1–6, 6 = tốt nhất) chín lĩnh vực chủ đề khác nhau. Có thể bổ sung thêm nhận xét văn bản miễn phí. Các giáo viên làm việc với cả hai khái niệm cũng làm như vậy. Kết quả nghiên cứu cho thấy khái niệm học tập mới đã mang lại kết quả là đánh giá của học sinh được cải thiện và giáo viên hài lòng hơn.
Họ tin rằng khái niệm kết hợp, kết hợp các bài giảng và hội thảo tình huống, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc học và cải thiện môi trường học tập. Nghiên cứu này cũng được mong đợi là truyền cảm hứng cho những người khác thông qua chương trình giảng dạy mới này đặc biệt là những người tham gia vào chương trình đào tạo y khoa đại học. Nghiên cứu “Sử dụng các tiếp cận bài giảng và hướng dẫn trong giảng dạy các lớp học lớn của Darasawang, P. (2006) được thực hiện để tìm hiểu xem việc giảng dạy tiếng Anh có sử dụng hệ thống bài giảng và hướng dẫn có hiệu quả như thế nào trong một lớp học lớn.
Nghiên cứu có sự tham gia của 65 sinh viên đang tham gia khóa học tiếng Anh cuối cùng tại Đại học Công nghệ Thonburi của King Mongkut. Dữ liệu từ nghiên cứu cho thấy rằng trong cả ba loại hình học tập (bài giảng truyền thống, hướng dẫn, kết hợp bài giảng truyền thống và hướng dẫn), sinh viên ưa thích hình thức hướng dẫn hơn. Tuy nhiên, nếu so sánh lớp học thông thường với sự kết hợp giữa giảng dạy và hướng dẫn thì sinh viên vẫn thích học ở lớp học thông thường hơn. Do dó, nghiên cứu chưa thể đưa ra bất kỳ kết luận nào về các phương thức giảng dạy tiếng Anh phù hợp trong các lớp học quy mô lớn.
Như vậy, nghiên cứu cũng giúp ta nhìn thấy được mô hình kết hợp mới giữa bài giảng truyền thống với hướng dẫn không phải đem lại hiệu quả trong tất cả mọi trường hợp và nó có thực sự đem lại hiệu quả tích cực cho việc dạy và học tại các môi trường giáo dục đại học. Trong bộ tài liệu giảng dạy “bài giảng - hướng dẫn” (lecture - tutorial) từ nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Prather, E. (2004), người tham gia khóa học được cung cấp các hoạt động học tập trong đó người học làm trung tâm trong lớp học, giảng viên sẽ đóng vai trò định hướng trong suốt quá trình đó. Các đánh giá định lượng và định tính đã được hoàn thành bằng cách sử dụng các công cụ trước khóa học, sau khóa học và sau “bài giảng - hướng dẫn”, cùng với các cuộc phỏng vấn nhóm tập trung tương ứng.
Dữ liệu đánh giá minh họa rằng chỉ riêng các bài giảng thông thường đã giúp học sinh đạt được mức độ hiểu biết đáng kể về mặt thống kê, nhưng chưa đạt được yêu cầu (sinh viên chỉ đạt điểm ở mức 50% sau bài giảng). Trong khi đó, việc sử dụng phương pháp kết hợp bài giảng và hướng dẫn đã giúp sinh viên đạt được những thành tựu đáng kể về mặt thống kê so với những gì đạt được sau bài giảng (với số điểm sinh viên đạt được ở mức 70% sau bài giảng - hướng dẫn). Đánh giá định lượng về thái độ của sinh viên cho thấy không có tiến bộ đáng kể nào trong học kỳ, nhưng sinh viên cho biết họ coi Bài giảng - Hướng dẫn là một trong những phần có giá trị nhất khóa học. Kết quả của nghiên cứu này được kỳ vọng là đem lại hiệu quả to lớn cho sự thay đổi tích cực trong phương pháp dạy và học trong lĩnh vực thiên văn học và mở rộng ra là sự học của sinh viên, và người học ở các lĩnh vực khác.