Chương 1. TỔNG QUAN TÀI TIỆU 1. Giới thiệu chung về cây bơ Nguồn gốc, đặc điểm của cây bơ Cây bơ có danh pháp khoa học là Persea americana Mill. thuộc họ Lauraceae (Long não), bộ Laurales, có nguồn gốc từ cây bơ hoang dại thuộc Trung Mỹ và miền nam Mexico [62].
Cây bơ lần đầu tiên được thuần hóa ở châu Mỹ nhiệt đới, loại cây này không được chú ý đến cho đến khoảng năm 1900, cây bơ đã phát triển trên khắp thế giới ở những vùng khí hậu thích hợp như Mexico, Chile, Cộng hòa Dominica, Indonesia và Colombia. Bơ cũng được trồng thương mại ở Florida, California, Hawaii, Nam Phi, Brazil và Australia, cũng như trên một số hòn đảo ở Thái Bình Dương và ở một số quốc gia Địa Trung Hải bao gồm cả Israel. Cây bơ có mặt ở Việt Nam từ năm 1940, những vùng sản xuất bơ chính bao gồm Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Lâm Đồng, Phú Thọ, Quảng Trị, phát triển nhất ở Đắk Lắk vì nơi này có điều kiện sinh thái rất thích hợp cho cây bơ sinh trưởng và phát triển, cho năng suất và chất lượng tốt [1]. Cây bơ thích hợp trên nhiều vùng đất khác nhau như đất sét pha cát, đất pha sét và đất thịt nặng, cây cao hoặc tán rộng, lá hình elip đến hình trứng dài từ 10–30 cm.
Những bông hoa nhỏ màu xanh lục được sinh ra trong những chùm hoa dày đặc và thiếu những cánh hoa thật. Các hoa có chín nhị, xếp thành ba dãy, bầu nhụy một ô. Có hai loại hoa bơ, A và B, tùy thuộc vào giống cây trồng. Hoa loại A có chức năng là hoa cái vào buổi sáng, kết thúc vào giữa trưa và sau đó nở trở lại như hoa đực về mặt chức năng vào buổi chiều ngày hôm sau.
Hoa loại B về mặt chức năng là hoa cái vào buổi chiều, kết thúc vào buổi tối và sau đó nở lại vào sáng hôm sau như hoa đực về mặt chức năng. Khi hai loại hoa được trồng cùng nhau, sự chồng chéo theo thời gian của các bộ phận đực và cái trưởng thành sẽ khuyến khích quá trình thụ phấn chéo và do đó tạo ra nhiều quả hơn. 5 Quả bơ có kích thước vô cùng đa dạng. Tùy thuộc vào giống, bơ có hình dạng thay đổi từ hình tròn đến hình quả lê với cổ dài, mảnh và màu sắc từ xanh lục đến tím sẫm.
Về mặt thực vật, quả bơ là loại quả mọng và có một hạt tròn lớn với hai lá mầm. Thịt quả thường có màu vàng kem, vàng bơ hoặc màu vàng sáng, có giống cho thịt quả có màu vàng xanh ở sát phần vỏ quả. Thịt quả có hàm lượng dầu béo rất cao so với các loại quả khác. Hạt được hai lớp vỏ lụa bao bọc gồm có hai tử diệp (nội nhũ) hình bán cầu.
Giữa hai tử diệp có phôi hạt nằm về phía cuống quả và khi hạt nẩy mầm, cây mầm sẽ mọc thẳng từ dưới lên theo trục thẳng đứng của hạt. Mặt ngoài tử diệp trơn láng hoặc sần sùi tùy theo giống và hình dạng cũng biến động khá nhiều. Quả bơ có một hạt lớn chiếm 10 - 25% trọng lượng quả [62]. Hiện nay, có nhiều giống bơ khác nhau được trồng trên thế giới, phần lớn các giống có tính thương mại đều thuộc 3 chủng: Mexico, Guatemala và West Indian.
Ở Việt Nam, giống bơ 034 có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nhiều vùng khác nhau. Cây có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao. Cây bơ 034 có hoa thuộc nhóm B, khi chín vỏ xanh căng bóng, cơm vàng có độ dẻo và độ béo cao, tỉ lệ thịt của quả đạt 75 – 82%, hạt nhỏ hoặc không hạt [71]. Giá trị của quả bơ 1.
Giá trị dinh dưỡng Quả bơ cung cấp nguồn năng lượng rất lớn (160 kcal/100g thịt quả), chứa 73% nước, 15% chất béo, 9% carbohydrate và 2% protein, một lượng đáng kể các acid béo không bão hòa đơn và có nhiều vitamin C, E, K, B6 cũng như riboflavin, niacin, folate, acid pantothenic và các khoáng chất. Bơ cũng cung cấp lutein, β-carotene và acid béo ω-3. Đặc biệt, trong 100 g thịt quả bơ có 76 mg β-sitosterol, tiêu thụ thường xuyên β-sitosterol và các sterol thực vật khác có thể giúp duy trì mức cholesterol khỏe mạnh, rất quan trọng đối với sức khỏe tim mạch. Bơ chứa lutein và zeaxanthin là hai chất quan trọng nhất có trong mô mắt.
Chúng cung cấp khả năng bảo vệ chống oxy hóa, giúp giảm thiểu thiệt hại đặc biệt là tia cực tím. Do đó, thêm bơ vào chế độ ăn 6 uống có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác [21]. Quả bơ có đa dạng các loại chất béo, khoảng 75% năng lượng của quả bơ đến từ chất béo, hầu hết trong số đó (67% tổng chất béo) là chất béo không bão hòa đơn như acid oleic. Các chất béo chiếm ưu thế khác bao gồm acid palmitic và acid linoleic [26].
Thành phần dinh dưỡng của quả bơ (trong 100 g thịt quả) Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng Protein 1,7 g Acid pantothenic 10,00 mg Lipid 26,4 g α-Tocopherol 2,07 mg Carbohydrates 5,1 g Vitamin K 21 μg Chất xơ thô 1,8 g Folate 89 μg Vitamin A 0,17 mg Magnesium 35,00 mg Acid ascorbic 16,00 mg Mangan 4,21 mg Niacin 1,10 mg Phosphorus 38,00 mg Riboflavin 0,13 mg Iron 0,6 mg Thiamine 0,06 mg Calcium 28,50 mg (Nguồn: Madhav Rao and Abdul Khader, 1977) 1. Giá trị kinh tế Thị trường bơ là một trong những thị trường mở rộng nhanh nhất trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Mức tiêu thụ bơ hàng năm cao, trên toàn cầu có khoảng 5 triệu tấn bơ được tiêu thụ mỗi năm, ước tính trung bình trên đầu người là 3,5 kg ở Hoa Kỳ và 1,05 kg ở Châu Âu. FAOSTAT báo cáo vào năm 2019, có 66 quốc gia hiện đang sản xuất bơ trên 25 tấn /năm trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 2018.
Thị phần nước sản xuất bơ hàng đầu trên thế giới [50] Năm 2001, sản lượng bơ thế giới đạt 2,8 triệu tấn và tăng lên 6 triệu tấn vào năm 2017, cho thấy tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5%. Từ năm 2014 đến năm 2017, sản lượng bơ thế giới đã tăng 6,2%, ghi nhận sản lượng bơ cao nhất là 6 triệu tấn trong năm 2017. Năm 2018, trung bình khoảng 35% tổng sản lượng bơ thế giới được dành cho thị trường xuất khẩu so với các loại trái cây nhiệt đới khác [49]. Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp quốc (FAO) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm 2030, sản lượng bơ dự kiến sẽ đạt 12 triệu tấn, trong đó có tới 3,9 triệu tấn sẽ được xuất khẩu, tổng giá trị xuất khẩu bơ thế giới ước tính đạt 8,3 tỷ đô la [68].
Ở Việt Nam, bơ là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, được trồng chủ yếu ở khu vực Tây Nguyên, khu vực miền núi phía Bắc. So với các cây ăn quả khác, cây bơ cho thu nhập cao, theo tính toán của nhiều hộ nông dân một cây bơ trung bình cho 120 kg quả, với giá bán hiện nay từ 20.000 đồng/ kg quả thì một cây bơ đã thu về 2. Tình hình sản suất và tiêu thụ quả bơ trên Thế giới và Việt Nam Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả bơ trên thế giới Năm 2018, giá trị thị trường bơ thế giới là 14 tỷ USD, dự báo đến năm 2027 đạt 23 tỷ USD. Năm 2020, sản lượng bơ của toàn thế giới đạt 8,06 triệu tấn, Mexico là nhà sản xuất bơ lớn nhất trên thế giới, tiếp theo là Colombia, Cộng hòa Dominica, Peru, Indonesia, Kenya Brazil, Ethiopia,.
Các quốc gia sản xuất bơ chính trên thế giới Quốc gia Sản lượng (tấn) Quốc gia Sản lượng (tấn) Mexico 2,393,849 Chile 160,535 Colombia 876,754 Israel 147,000 Dominican Republic 676,373 Guatemala 137,024 Peru 660,003 Venezuela 132,448 Indonesia 609,049 China 117,338 Kenya 322,556 Spain 99,070 Brazil 266,784 South Africa 98,018 Ehiopia 245,336 Malawi 93,619 Theo Báo cáo triển vọng nông nghiệp từ năm 2021-2030 của FAO và OECD, trên thị trường toàn cầu, bơ được dự báo là quả được xuất khẩu nhiều nhất trong 10 năm tới. Nhu cầu về rau quả toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng và bơ được dự báo trở thành loại quả nhiệt đới được giao dịch nhiều nhất vào năm 2030, đạt 3,9 triệu tấn xuất khẩu, vượt qua cả dứa và xoài về số lượng. Hiện nay Mexico đang là thị trường sản xuất và xuất khẩu bơ lớn nhất thế giới. Dự báo sản lượng quả bơ của Mexico tăng trưởng bình quân 5%/năm 9 trong vòng 10 năm tới.
Xuất khẩu quả bơ của Mexico tăng là nhờ nhu cầu tiêu thụ mạnh tại Mỹ - thị trường nhập khẩu bơ lớn nhất thế giới hiện nay. Bất chấp sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các quốc gia khác, Mexico dự kiến sẽ tiếp tục tăng tỷ trọng xuất khẩu quả bơ trên toàn cầu lên 63% vào năm 2030. Trong đó, Mỹ và EU là thị trường xuất khẩu chính của quả bơ của Mexico. Tỷ trọng nhập khẩu bơ của Mỹ dự kiến chiếm 40% và EU chiếm 31% tổng trị giá nhập khẩu quả bơ trên toàn cầu vào năm 2030.
Bên cạnh thị trường Mỹ, nhập khẩu quả bơ cũng đang tăng nhanh ở nhiều thị trường khác như ở Trung Quốc và một số nước ở Trung Đông [70]. Nhu cầu toàn cầu về quả tươi đang tăng lên nhanh chóng và bơ được dự báo sẽ trở thành loại quả nhiệt đới được giao dịch nhiều nhất vào năm 2030, đạt 3,9 triệu tấn xuất khẩu. Với đơn giá bơ trung bình cao, tổng giá trị xuất khẩu bơ toàn cầu có thể sẽ đạt khoảng 8,3 tỷ USD, do đó quả bơ sẽ trở thành một trong những mặt hàng trái cây xuất khẩu có giá trị [70]. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả bơ ở Việt Nam Hiện nay, ở Việt Nam, nhiều địa phương có diện tích trồng cây bơ lớn như Đắk Lắk hiện có trên 9.000 ha bơ các loại, trong đó, tổng sản lượng dự kiến là 82.
Tỉnh Đắk Nông, năm 2019, toàn tỉnh chỉ có 3.794 ha bơ, sản lượng đạt 15.050 tấn, nhưng đến năm 2020, tăng lên 4.383 ha, sản lượng 18. Năm 2021, cây bơ trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng, đạt mức 4.535 ha, sản lượng khoảng 24. Sơn La, cây bơ được đưa về trồng khoảng 10 năm trước, theo thống kê năm 2020, tỉnh đã có 1.022 ha bơ, năng suất bình quân đạt 13 - 14 tấn/ha. Cây bơ dễ trồng, ít sâu bệnh, chi phí chăm sóc chỉ bằng 1/3 các loại cây lâu năm khác và với giá bơ ổn định như nhiều năm qua, mỗi ha cho thu hoạch từ 300 - 500 triệu đồng/năm.