Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của cá chim trắng vây vàng 1. Vị trí phân loại Ngành: Vertebrata Lớp: Osteichthyes Bộ: Perciformes Họ: Carangidea Giống: Trachinotus Loài: Trachinotus blochii (Lacepide, 1801) Tên tiếng Việt: cá chim trắng vây vàng, cá sòng mũi hếch Tên tiếng Anh: Snub-nose pompano.
Cá chim trắng vây vàng Trachinotus blochii (Lacepède, 1801) 1. Đặc điểm hình thái ngoài Cá hình hơi tròn, cao và mặt bên dẹp chính giữa lưng hình vòng cung. Vây lưng I, V - VI. Vây ngực 19, vây bụng 15, vây đuôi 17.
Trên đường bên vẩy sắp xếp khoảng 135 - 136 cái; chiều dài so với chiều cao 1,6 - 1,7 lần. Đầu cá nhỏ, chiều cao của đầu lớn hơn chiều dài đầu. Xương ở chính giữa bề lưng của đầu rõ ràng, chiều dài của đầu so với môi dài 5,1 - 6,2 lần, so với đường kính mắt 3,9 - 4,3 lần, môi tù PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 phía trước hình cắt cụt, đường kính mắt dài hơn môi 1,2 - 1,6 lần. Mắt có vị trí về phía trước nhỏ, màng mỡ mắt không phát triển; 2 lỗ mũi mỗi bên gần nhau, lỗ mũi trước nhỏ hình tròn, lỗ mũi sau to hình bầu dục.
Miệng nhỏ xiên, đoạn sau của xương hàm trên lồi ra, hàm trên và hàm dưới có răng nhỏ hình lông, răng phía sau dần thoái hoá, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to, rìa sau cong. Xương nắp mang phía sau trơn, màng nắp mang tách rời, tia mang 8 - 9 cây tia mang ngắn, sắp xếp thưa đoạn cuối của tia mang phía trên và dưới có một số thoái hoá, bộ phận đầu không có vảy, cơ thể có nhiều vảy tròn nhỏ dính vào dưới da. Vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vảy không có gờ, vây lưng thứ 1 hướng về phía trước gai bằng và 5 - 6 gai ngắn. Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thoái hoá thành những gai tách rời nhau, vây lưng thứ 2 có 1 gai và 19 - 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm.
Tia vây dài nhất gấp chiều dài của đầu 1,2 - 1,3 lần, vây hậu môn có 1 gai và 17 - 18 tia vây, phía trước có 2 gai ngắn, vây hậu môn và vây lưng thứ 2 hình dạng như nhau, trong đó tia vây dài nhất gấp 1,1 - 1,2 chiều dài của đầu. Vây ngực tương đối ngắn, ngắn hơn chiều dài của đầu, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm. Ruột uốn cong 3 lần (chiều dài ruột/chiều dài của cá là 0,8). Xương sống 10 - 14, lưng màu tro bạc, bụng màu ánh bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh bạc vàng, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn màu ánh bạc vàng, vây đuôi màu vàng tro [12], [22], [33].
Phân bố Cá chim trắng vây vàng phân bố ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, thuộc vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, từ bờ Biển Đỏ, Đông Nam châu Phi đến đảo Marshall và Samoa, miền Bắc tới miền Nam Nhật Bản, phía Nam Australia và rất phổ biến ở biển Đài Loan (Pin Lan và ctv, 1999) [50]. Giai đoạn nhỏ, chúng sống tập trung thành nhóm ở các dải cát ven bờ hoặc các vịnh đáy bùn gần cửa sông. Khi trưởng thành, cá chim trắng vây vàng thường sống đơn độc và di chuyển tới các rạn đá hoặc san hô (Hardy và ctv, 2003) [37]. Theo Borut Forlan (2004) cá chim trắng vây vàng sống ở vùng biển hở và được tìm thấy ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương.
Ở châu Á, cá chim trắng vây vàng phân bố ở miền Nam Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc (Hoàng Hải, Đông Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam), Đài Loan. Ở Việt Nam, cá chim trắng vây vàng được tìm thấy trên vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ (Nguyễn Kim Độ và ctv) [2]. Ở giai đoạn con giống chúng có xu hướng tập trung theo đàn và dần tách đi một mình khi đã trưởng thành (Bianchi. Cá chim trắng vây vàng thuộc loài cá rộng muối, có tập tính di cư, sống ở tầng giữa và tầng mặt, chúng có thể sống ở mức độ mặn từ 20/00 đến 450/00.
Ở dưới mức độ mặn 200/00, cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao, tốc độ sinh trưởng của PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 cá chậm hơn (Allen và ctv, 1970) [20]. Ở giai đoạn nhỏ, chúng xuất hiện ở những vùng có khoảng dao động độ mặn rộng hơn, từ 9 đến 500/00. Nhưng ở giai đoạn trưởng thành, cá chim trắng vây vàng thường bắt gặp ở vùng nước có độ mặn trong khoảng 30 đến 370/00 (Gilbert và ctv, 1986) [33]. Theo Hardy và ctv (2003), cá trưởng thành sống ở vùng cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu ít nhất 7 m; ngoài ra cá giống thường thấy sống ở vùng cát hoặc gần vùng đất cát sét [37].
Bản đồ phân bố của cá chim trắng vây vàng trên thế giới (những điểm màu có màu đỏ và vàng) [62] Theo Watanabe (1994) cá chim trắng vây vàng là loài phân bố ở vùng nước ấm, thông thường chúng được bắt gặp ở vùng nước có nhiệt độ dao động từ 25 đến 320C, một số ít loài cá chim trắng vây vàng được tìm thấy ở vùng nước có nhiệt độ dưới 170C [57]. Theo Cheng (1990), ở mức nhiệt độ từ 16 đến 360C cá vẫn phát triển bình thường, nhưng sinh trưởng tốt nhất trong khoảng 220C đến 280C. Khả năng chịu đựng nhiệt độ tương đối kém, thông thường nhiệt độ thấp dưới 16 0C cá chim trắng vây vàng ngừng bắt mồi, nhiệt độ thấp nhất mà cá chịu đựng là 140C nếu hai ngày nhiệt độ dưới 140C cá sẽ chết. Nhu cầu hàm lượng oxy hòa tan lớn hơn 2,5 mg/l [25].
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1. Đặc điểm dinh dưỡng Cá chim trắng vây vàng là loài cá dữ ăn thịt, đầu tù, miệng ở phía trước bành ra 2 bên. Cá hương có răng nhỏ, khi cá trưởng thành răng thoái hóa. Cuống mang ngắn và thưa, đặc điểm này khiến cá có thể dùng đầu tìm kiếm thức ăn ở trong cát.
Nguồn dinh dưỡng và thức ăn khác nhau ở từng giai đoạn phát triển của cá và loại thức ăn sẵn có ở nơi mà chúng phân bố. Giai đoạn cá bột và cá hương, cá chim trắng vây vàng phân bố ở vùng nước cạn ven bờ, nên thức ăn tự nhiên là các loài động vật phù du và động vật đáy, bao gồm giun nhiều tơ, nhuyễn thể nhỏ, ấu trùng giáp xác. Đến giai đoạn trưởng thành, cá di chuyển dần ra vùng nước sâu, xa bờ, sinh sống ở các vùng rạn đá, san hô, thức ăn của chúng chủ yếu là các loài động vật đáy như nhuyễn thể, giun và loài động vật không xương sống khác (Bianchi, 1985) [21]. Trong điều kiện nuôi, cho cá ăn thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép xay nhỏ, cá trưởng thành ăn tôm cá băm nhỏ pha thức ăn công nghiệp [12].
Theo Lâm Cẩm Tôn (1995), cá chim trắng vây vàng có hệ số bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước như bảng 1. Quan hệ giữa hệ số bắt mồi của cá chim trắng vây vàng và sự thay đổi nhiệt độ nước (nguồn: [15]) Dao 15- 18 18-20 21-23 22-25 23,6-26,4 26,2-28,1 27,2-28,2 Nhiệt độ động nước (t0C) TB 17,0 18,6 21,2 23,6 25,8 27,0 28,0 Dao 1,2-1,9 1,5-4,2 2,3-5 4 - 11 9,4 - 16 8,8 - 15 8,2 - 17 Hệ số bắt động mồi (%) TB 1,2 3,0 3,4 7,0 13,9 12,6 13,7 Trong điều kiện nuôi, ở giai đoạn cá con, ngoài sinh vật phù du (tảo, luân trùng và ấu trùng Artemia), người ta còn sử dụng các loại thức ăn tổng hợp để ương nuôi cá. Giai đoạn nuôi thương phẩm, các loại thức ăn tổng hợp và cá tạp được sử dụng chủ yếu tùy theo điều kiện từng vùng nuôi. Chế độ cho ăn trong quá trình ương cá chim trắng vây vàng được cho ở bảng 1.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Bảng 1. Khẩu phần thức ăn cho cá chim trắng vây vàng Số lần cho ăn Mật độ Ngày tuổi Loại thức ăn (lần/ngày) thức ăn 1 - 17 Tảo 2 20 - 25 L/m3 2 Luân trùng 1 5 - 10 con/L 3 - 17 Luân trùng 2-4 10 - 20 con/L 8 - 13 Artemia 2 3 - 7 con/L 14 - 22 Artemia 2-4 10 - 15 con/L 19 - 29 INVE (300 - 500 μm) 5 Theo nhu cầu 30 - 40 INVE (400 - 600 μm) 5 Theo nhu cầu 41 - 50 INVE (500 - 800 μm) 5 Theo nhu cầu 51 - 60 INVE (1200 μm) 5 Theo nhu cầu * INVE: thức ăn tổng hợp dạng viên bột của Công ty INVE Ltd (THAILAND). Đặc điểm sinh trưởng Cá chim trắng vây vàng là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh, kích thước cơ thể lớn. Cá trưởng thành ngoài tự nhiên có thể đạt tới chiều dài 110 cm, trung bình khoảng 40 cm và khối lượng 5,5kg [24], [49].
Trứng sau khi thụ tinh sẽ nở ra ấu trùng trong khoảng thời gian 20 - 27 giờ tùy theo điều kiện môi trường, thích hợp nhất ở độ mặn 31 - 33‰, nhiệt độ 22 - 300C, pH từ 8,1 - 8,3 [9]. Tuy nhiên, thời gian phát triển phôi có thể kéo dài đến 30 - 36 giờ ở độ mặn 30‰ và nhiệt độ 24 - 260C. Ấu trùng mới nở có kích thước từ 2,79 - 3,11 mm; sau 3 ngày tuổi, cá đạt kích thước từ 3,02 - 3,31 mm. Ấu trùng lúc này chưa hình thành sắc tố, mắt, ống tiêu hóa, vây đuôi trong suốt [49].
Sau 25 - 30 ngày cá hương có kích thước 1,5 - 2,0 cm. Sau 60 ngày có thể đạt kích thước giống 4 - 5 cm. Trong điều kiện nuôi, cá có thể đạt tốc độ tăng trưởng 8%/ngày ở nhiệt độ 28 - 300C và độ mặn 33 - 35‰ [48]. Sau 1 - 3 năm tuổi, cá đạt kích thước 0,7 - 2,3 kg, cá 3 - 4 năm tuổi có thể đạt kích thước từ 2,2 - 3,6 kg [31], [33].
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Cá sinh trưởng trong điều kiện nuôi bình thường một năm có thể đạt quy cách cá thương phẩm cỡ 0,5 - 0,7kg. Từ năm thứ hai trở đi mỗi năm trọng lượng tuyệt đối tăng là 1 kg. Theo Trương Bang Kiệt (2001), thử nghiệm ương nuôi cá giống, thời kỳ đầu cá sinh trưởng chậm cá dài 2,6 cm với khối lượng 0,52 g. Qua 192 ngày nuôi cá dài 9,9 cm đạt khối lượng 20,53 g.