Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có xu hướng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là chăn nuôi gia cầm đang giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm có giá trị như: thịt, trứng…cho nhu cầu của người dân. Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng nâng cao, nhu cầu về thực phẩm đòi hỏi lớn hơn, ngon hơn. Do đó, đã thúc đẩy chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển với tốc độ nhanh. Xu hướng phát triển chăn nuôi theo hình thức công nghiệp đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ.
Vì vậy chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp hiện nay ở nước ta phát triển mạnh mẽ, với năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng. Với những giống gà có khả năng sản xuất thịt cao đưa vào chăn nuôi theo hướng công nghiệp như: Ross 208, Ross 308, AA…Đem lại hiệu quả kinh tế cao và là nguồn thu lớn cho nhiều chủ trang trại chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp. Gà Ross là giống gà công nghiệp siêu thịt của Scotland (Vương quốc Anh) được nhập vào Việt Nam từ hơn chục năm nay, gà Ross gồm nhiều dòng để tạo tổ hợp lai như: Ross 208, Ross 308, Ross 508…Đặc điểm của gà Ross tốc độ sinh trưởng nhanh, năng suất thịt cao, chất lượng thịt tốt, ít mỡ khả năng thích nghi tôt, phù hợp với điều kiện nước ta cả về phương tiền sản xuất và tiêu thụ. Để đạt hiệu quả cao, nâng cao năng suất cho thịt đồng thời tiết kiệm được chi phí sản xuất cần phải có quy trình và phương pháp chăn nuôi hợp lý Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của cô giáo TS.
Nguyên Thu Quyên và cơ sở nơi thực tập, chúng tôi thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hai loại thức ăn Deheus và Vilico tới khả năng sinh trưởng của gà broiler tại xóm Lam Sơn, xã Tân Cương, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” để có thêm cơ sở khoa học cho việc đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của gà thịt broiler ross 308. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và một số bệnh thường gặp của gà broiler khi nuôi bằng hai loại thúc ăn khác nhau. - Từ kết quả thu được của thí nghiệm, có cơ sở khuyến cáo cho người chăn nuôi sử dụng loại thức ăn cho khả năng sinh trưởng tốt đối với gà broiler.
Yêu cầu của đề tài - Sau khi kết thúc thí nghiệm phải đánh giá được ảnh hưởng của 2 loại thức ăn khác nhau đến khẩ năng sinh trưởng của gà broiler. - Khuyến cáo cho người chăn nuôi sử dụng loại thức ăn đã lựa chọn được qua thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi, sử dụng thức ăn dùng cho gà broiler có hiệu quả cao về sinh trưởng. - Kết quả của đề tài khuyến cáo bổ ích cho các tập thể, hộ gia đình, các cá nhân chăn nuôi gà broiler trong chuồng kín theo hướng công nghiệp.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng của gà broiler nuôi tại trại gà xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Nguồn gốc, phân loại gà * Nguồn gốc Người đầu tiên nghiên cứu về nguồn gốc, phân loại gia cầm là Darwin.
Theo ông gà nhà có nguồn gốc từ gà rừng Gallus banquiva. Trong đó có bốn chủng loại khác nhau: - Gallus sonnerati: Màu lông xám bạc, có nhiều ở miền Tây và Nam Ấn Độ. - Gallus lafayetti: Sống ở đảo Srilanca. - Gallus varius: Sống ở đảo Java.
- Gallus banquiva: Màu lông đỏ có nhiều ở Ấn Độ, bán đảo Đông Dương, Philippin. Cách đây 5000 năm gà được thuần hóa ở Ấn Độ, tại Trung Quốc gà cũng được thuần hóa cách đây hơn 3000 nghìn năm, sau đó xuất hiện ở Ba Tư rồi đến Mesopotami. Ở Tây Âu gà nhà xuất hiện cách đây khoảng gần 2500 năm. Những di tích văn hóa của Hy Lạp đã mô tả con gà trong đời sống từ hơn 700 năm trước công nguyên.
Ngày nay gà rừng Gallus banquiva vẫn còn sống ở vùng núi Ấn Độ, Java (Indonesia), Đông Dương. Màu lông của chúng có khác nhau nhưng chủ yếu là màu hơi vàng lẫn với những vạch đen, có cánh ngắn nên bay kém. Đến nay các tài liệu đều chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân hóa đi khắp thế giới. Ở nước ta cho đến nay các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia cầm chưa thật đầy đủ song sơ bộ có thể nói: Nước ta là một trong những cái nôi thuần hóa gà đầu tiên của Đông Nam Á.
e 4 * Phân loại gà Theo Nguyễn Văn Thiện (1996) [13] thì vị trí sắp xếp của gà trong giới động vật như sau: + Giới (Kingdom): Animal; + Ngành (Phylum): Chordata; + Lớp (Class): Aves; + Bộ (Order): Galliformes; + Họ (Family): phasianidae; + Chủng (Genus): Banquiva Gallus; + Loài (Species): Gallus gallus. Bản chất di truyền các tính trạng sản xuất của gia cầm Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm, các nhà khoa học không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó. Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất của gia cầm như: Sinh trưởng, sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt. đều là những tính trạng số lượng (Quantitative Character) và do các gen nằm trên cùng nhiễm sắc thể (NST) quy định.
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng loại. Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo. Các tính trạng số lượng được quy định bởi nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn. Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 [14] thì giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó.
Các giá trị có liên quan tới kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sai lệch môi trường e 5 (Environmental deviation). Như vậy kiểu gen quy định một giá trị nào đó của kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác. Quan hệ đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình G: Là giá trị kiểu gen E: Là sai lệch môi trường Tuy nhiên khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành. Đó là hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu.
Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene) gồm các thành phần: Cộng gộp, trội và tương tác gen, nên được biểu thị theo công thức sau: G=A+D+I Trong đó: G: Là giá trị kiểu gen A: Là giá trị cộng gộp (Additive value) D: Là giá trị sai lệch trội (Dominance deviation) I : Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation) Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống. Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường thực nghiệm. D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống.
e 6 Đồng thời tính trạng số lượng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường chung và môi trường riêng: - Sai lệch môi trường chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu. Do vậy đó là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một cơ thể. - Sai lệch môi trường riêng (Environmental deviation) (Es) là các sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi hoặc một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của con vật.
Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý. Như vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị như sau : P = A + D + I + Eg + Es Do đó để đạt được năng suất, chất lượng cao trong chăn nuôi (Giá trị kiểu hình như mong muốn) chúng ta cần phải có giống tốt và tạo ra môi trường thích hợp để phát huy hết tiềm năng của giống. Trong đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (E) đến giá trị kiểu hình, từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng cũng như tạo ra môi trường thích hợp để tiềm năng của giống (G) được thể hiện ra giá trị kiểu hình (P) có lợi cho người chăn nuôi. Sức sống và khả năng chống đỡ bệnh của gia cầm Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể.
Trong cùng một giống sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khác nhau nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phẩm giống. e 7 Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường. Người ta thông qua tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm.