Nghiên cứu tác động của việc thay đổi các quy định về quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận công bố của các công ty niêm yết tại việt nam

Nghiên cứu tác động của quy định quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận công bố của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Xem ngay!

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Nghiên cứu khoa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

2022

191
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Tổng quan nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN LỢI NHUẬN CÔNG BỐ

1.1. Quản trị công ty và tác động đến chất lượng thông tin công bố

1.2. Khái quát về quản trị công ty

1.3. Các cơ chế quản trị công ty và khung quản trị công ty

1.4. Khái quát về các cơ chế quản trị công ty

1.5. Các nguyên tắc quản trị công ty theo OECD

1.6. Tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận công bố

1.7. Tổng quan tác động của thay đổi trong quy định về QTCT đến chất lượng thông tin lợi nhuận kế toán công bố

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cách tiếp cận và giả thuyết nghiên cứu của đề tài

2.2. Cách tiếp cận trong đo lường chất lượng thông tin lợi nhuận công bố

2.3. Cách tiếp cận để đánh giá tác động của thay đổi trong quản trị công ty đến chất lượng thông tin LN kế toán công bố và giả thuyết nghiên cứu

2.4. Mô hình nghiên cứu thực chứng

2.5. Mô hình đo lường các khoản dồn tích bất thường

2.6. Các biến và thang đo sử dụng trong mô hình đánh giá mức độ thao túng số liệu để ổn định LN

2.7. Các biến và thang đo sử dụng trong nghiên cứu về thao túng LN nhằm tránh báo cáo lỗ

2.8. Các biến và thang đo sử dụng trong mô hình đánh giá mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và LN

2.9. Tổng hợp thông tin cần thu thập và nguồn dữ liệu

2.10. Khái quát mẫu nghiên cứu

2.11. Mẫu nghiên cứu đánh giá về chất lượng biến kế toán dồn tích và thao túng số liệu để ổn định LN

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI TRONG KHUNG PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN LN CÔNG BỐ CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM

3.1. Khái quát về khung pháp lý liên quan đến quản trị công ty tại Việt Nam và sự phát triển

3.2. Kết quả thực nghiệm về thay đổi của chất lượng biến kế toán dồn tích sau các thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.3. Kết quả phân tích hồi quy xác định biến kế toán dồn tích bất thường năm 2020

3.4. Kết quả phân tích hồi quy xác định biến kế toán dồn tích bất thường năm 2021

3.5. Phân tích so sánh chất lượng biến kế toán dồn tích trước và sau thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.6. Kết quả thực nghiệm về thay đổi của xu hướng thao túng số liệu để ổn định LN sau các thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.7. Kết quả phân tích hồi quy xác định độ dao động của LN và luồng tiền năm 2020

3.8. Kết quả phân tích hồi quy xác định độ dao động của LN và luồng tiền năm 2021

3.9. Phân tích so sánh thao túng số liệu để ổn định LN trước và sau thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.10. Kết quả thực nghiệm về thay đổi của xu hướng thao túng số liệu để tránh báo cáo lỗ sau các thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.11. Kết quả thực nghiệm về thay đổi của mối quan hệ giữa LN và giá cổ phiếu sau các thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

3.12. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ giữa LN và giá cổ phiếu năm 2020

3.13. Kết quả phân tích hồi quy mối quan hệ giữa LN và giá cổ phiếu năm 2021

3.14. Phân tích so sánh mối quan hệ giữa LN và giá cổ phiếu trước và sau thay đổi trong khung pháp lý về QTCT

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ

4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.2. Phân tích nguyên nhân có thể liên quan đến tác động của cải thiện môi trường pháp lý liên quan đến QTCT và chất lượng thông tin lợi nhuận

4.3. Các khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu của đề tài

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: VAI TRÒ KHÁI QUÁT CỦA TỪNG CHỦ THỂ TRONG CƠ CẤU QTCT

PHỤ LỤC 2: CÁC NGUYÊN TẮC VỀ QTCT CỦA OECD

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Quản Trị Công Ty Tại Việt Nam

Nghiên cứu về tác động của quy định quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận tại Việt Nam là vô cùng cấp thiết. Các nghiên cứu thực chứng cho thấy quản trị công ty có tác động đáng kể đến chất lượng kế toán. Tuy nhiên, quản trị công ty ở các công ty niêm yết Việt Nam còn nhiều hạn chế, dẫn đến tính minh bạch và chất lượng thông tin kế toán chưa cao. Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã thực hiện nhiều biện pháp cải tiến, bao gồm Nghị định 71/2017/NĐ-CP và Thông tư 95/2017/TT-BTC. Giai đoạn 2019-2020 đánh dấu những cải cách quan trọng với việc ban hành Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 và Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Các văn bản này, cùng với các Nghị định và Thông tư hướng dẫn, có hiệu lực từ đầu năm 2021, tạo nên một bước thay đổi căn bản trong khung pháp lý về quản trị công ty. Câu hỏi đặt ra là liệu những thay đổi này có thực sự cải thiện chất lượng thông tin lợi nhuận hay không. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tác động của những quy định mới, giúp nhà lập pháp hiểu rõ hơn về hiệu quả của các văn bản và cung cấp thông tin hữu ích cho các bên liên quan.

1.1. Tính Cấp Thiết Của Đề Tài Về Quản Trị Công Ty

Đề tài nghiên cứu tác động của quy định quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy bằng chứng về tác động của các thay đổi trong khung pháp lý quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán không nhất quán, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu này góp phần làm rõ hiệu quả của các thay đổi pháp lý, từ đó cung cấp thông tin cho việc xây dựng chính sách và quy định trong tương lai, cả trong lĩnh vực kế toán và quản trị công ty.

1.2. Tổng Quan Nghiên Cứu Quản Trị Công Ty Toàn Cầu

Quản trị công ty ra đời từ nhu cầu hạn chế rủi ro thông tin của người sử dụng báo cáo tài chính. Cũng như kiểm toán độc lập, quản trị công ty được coi là yếu tố củng cố chất lượng thông tin kế toán. Quản trị công ty bao gồm các bên liên quan về tài chính, hội đồng quản trị, môi trường kiểm soát và sự minh bạch thông tin. Nó nhằm củng cố hoạt động của công ty và nền kinh tế. Vì vậy, nâng cao tính minh bạch trong thông tin tài chính kế toán là cấp thiết để các bên liên quan kiểm soát và hỗ trợ lẫn nhau.

II. Vấn Đề Ảnh Hưởng Của Quy Định Quản Trị Đến BCTC

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho thấy mối quan hệ giữa quản trị công tychất lượng thông tin lợi nhuận là không đồng nhất. Nghiên cứu của Kouki (2011) chỉ ra rằng 74% các công ty Mỹ có Giám đốc điều hành kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị, gây ra nhiều bê bối tài chính. Niu (2006) tại Canada cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa các cơ chế quản trị công ty và các khoản dồn tích bất thường. Tuy nhiên, González (2014) lại chỉ ra rằng tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị ít tác động đến việc hạn chế thao túng lợi nhuận ở Mỹ Latin do thiếu sự luân chuyển thành viên và các mối quan hệ gia đình. Tương tự, Houqe (2011) cũng kết luận tương tự tại Bangladesh, nơi có nhiều công ty thuộc sở hữu gia đình. Như vậy, hiệu quả của quản trị công ty phụ thuộc vào môi trường kinh doanh.

2.1. Tính Không Nhất Quán Trong Nghiên Cứu Toàn Cầu

Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc phát huy vai trò hạn chế thao túng lợi nhuận và nâng cao chất lượng thông tin kế toán của quản trị công ty phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh, văn hóa, pháp lý. Các quy định quản trị công ty không phải lúc nào cũng phát huy hiệu quả mong muốn.

2.2. Nghiên Cứu Quản Trị Công Ty Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán tập trung vào cơ cấu sở hữu và đặc điểm của Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu không nhất quán. Nguyên nhân có thể là do các nhân tố này có tác động qua lại lẫn nhau. Việc xem xét tác động của từng nhân tố trong các mẫu và giai đoạn nghiên cứu khác nhau có thể cho kết quả khác nhau (Đào Nam Giang và Nguyễn Thị Khánh Phương (2022)). Do đó, cần một cách tiếp cận tổng hợp để xem xét đồng thời nhiều nhân tố thuộc quản trị công ty.

2.3. Tổng Quan Nghiên Cứu Pháp Lý Về Quản Trị Công Ty Việt Nam

Xét trong bối cảnh Việt Nam, khái niệm quản trị công ty được du nhập sau năm 2000 và chính thức được đưa vào văn bản pháp quy từ 2005-2007. Khung pháp lý về quản trị công ty được xây dựng dần trong 15 năm qua. Những thời điểm cải cách pháp lý liên quan sẽ tạo ra thay đổi căn bản ở nhiều nhân tố. Nghiên cứu tác động của những thay đổi này có thể đáp ứng kỳ vọng về một góc nhìn đa chiều. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khung pháp lý thay đổi lớn vào năm 2021.

III. Phương Pháp Đo Lường Chất Lượng Thông Tin Lợi Nhuận

Đo lường chất lượng thông tin lợi nhuận là một thách thức. Nghiên cứu này xem xét các khía cạnh sau: Biến kế toán dồn tích, thao túng số liệu để ổn định lợi nhuận, thao túng số liệu để tránh báo cáo lỗ, và mối quan hệ giữa lợi nhuậngiá cổ phiếu. Các mô hình đo lường được sử dụng để ước tính các khoản dồn tích bất thường và xác định mức độ thao túng số liệu. Thông tin cần thu thập bao gồm báo cáo tài chính, dữ liệu thị trường chứng khoán và thông tin về quản trị công ty. Mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn trước và sau khi có hiệu lực của các quy định mới về quản trị công ty.

3.1. Tiếp Cận Đo Lường Biến Kế Toán Dồn Tích

Nghiên cứu sử dụng các mô hình để đo lường biến kế toán dồn tích, một chỉ số quan trọng về chất lượng thông tin lợi nhuận. Các khoản dồn tích bất thường được ước tính thông qua các mô hình hồi quy, sử dụng các biến kiểm soát như quy mô công ty, tỷ lệ nợ và tăng trưởng doanh thu. Mục tiêu là xác định phần dồn tích không giải thích được bởi các yếu tố kinh tế cơ bản, từ đó đánh giá mức độ thao túng thông tin.

3.2. Phương Pháp Đánh Giá Thao Túng Lợi Nhuận

Để đánh giá thao túng lợi nhuận, nghiên cứu xem xét cả hai khía cạnh: ổn định lợi nhuận và tránh báo cáo lỗ. Các chỉ số như độ dao động của lợi nhuận và dòng tiền được sử dụng để đánh giá mức độ ổn định lợi nhuận. Việc phân tích tần suất báo cáo lỗ cũng được thực hiện để xác định liệu có sự thao túng nhằm tránh báo cáo lỗ hay không.

3.3. Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Lợi Nhuận Và Giá Cổ Phiếu

Mối quan hệ giữa lợi nhuậngiá cổ phiếu là một chỉ báo quan trọng về tính hữu ích của thông tin lợi nhuận. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để phân tích mối quan hệ này, với giá cổ phiếu là biến phụ thuộc và lợi nhuận là biến độc lập. Các biến kiểm soát như quy mô công ty và tỷ lệ nợ cũng được đưa vào mô hình. Mục tiêu là xác định liệu thông tin lợi nhuận có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay không, từ đó đánh giá chất lượng thông tin.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tác Động Từ Khung Pháp Lý Mới

Nghiên cứu đánh giá tác động của khung pháp lý mới về quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận của các công ty niêm yết Việt Nam. Các kết quả thực nghiệm cho thấy sự thay đổi của biến kế toán dồn tích sau các thay đổi trong khung pháp lý về quản trị công ty. Phân tích hồi quy xác định biến kế toán dồn tích bất thường năm 2020 và 2021. So sánh chất lượng biến kế toán dồn tích trước và sau thay đổi trong khung pháp lý về quản trị công ty. Nghiên cứu cũng xem xét sự thay đổi của xu hướng thao túng số liệu để ổn định lợi nhuận và tránh báo cáo lỗ sau các thay đổi trong khung pháp lý.

4.1. Thay Đổi Chất Lượng Biến Kế Toán Dồn Tích

Các kết quả thực nghiệm cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong chất lượng biến kế toán dồn tích sau khi khung pháp lý về quản trị công ty thay đổi. Cụ thể, biến kế toán dồn tích bất thường có xu hướng giảm sau khi các quy định mới có hiệu lực, cho thấy sự cải thiện trong tính minh bạch của thông tin tài chính.

4.2. Ảnh Hưởng Tới Thao Túng Số Liệu Ổn Định Lợi Nhuận

Nghiên cứu cũng cho thấy xu hướng thao túng số liệu để ổn định lợi nhuận giảm sau khi có sự thay đổi trong khung pháp lý về quản trị công ty. Điều này được thể hiện qua việc giảm độ dao động của lợi nhuận và dòng tiền, cho thấy các công ty ít sử dụng các biện pháp thao túng để làm đẹp báo cáo tài chính hơn.

4.3. Tác Động Tới Mối Quan Hệ Giữa Lợi Nhuận và Giá Cổ Phiếu

Nghiên cứu ghi nhận sự thay đổi của mối quan hệ giữa lợi nhuậngiá cổ phiếu sau khi khung pháp lý về quản trị công ty thay đổi. Mối quan hệ này có xu hướng mạnh mẽ hơn, cho thấy thông tin lợi nhuận trở nên hữu ích hơn đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán.

V. Thảo Luận Khuyến Nghị Nâng Cao Quản Trị Công Ty

Kết quả nghiên cứu cho thấy cải thiện môi trường pháp lý liên quan đến quản trị công ty có tác động đến chất lượng thông tin lợi nhuận. Các khuyến nghị được đưa ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của quản trị công ty. Phân tích nguyên nhân có thể liên quan đến tác động của cải thiện môi trường pháp lý liên quan đến quản trị công tychất lượng thông tin lợi nhuận cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.

5.1. Phân Tích Nguyên Nhân Cải Thiện Chất Lượng

Các nguyên nhân có thể bao gồm việc tăng cường tính độc lập của Hội đồng quản trị, cải thiện cơ chế giám sát và kiểm soát nội bộ, và nâng cao tính minh bạch trong công bố thông tin. Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu sâu hơn để xác định chính xác các yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất.

5.2. Khuyến Nghị Cải Thiện Môi Trường Pháp Lý

Các khuyến nghị có thể bao gồm việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty, tăng cường giám sát và kiểm tra việc tuân thủ các quy định, và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của quản trị công ty trong cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư. Cũng cần chú trọng đến việc áp dụng các thông lệ quản trị công ty tốt nhất của quốc tế, đồng thời điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của Việt Nam.

26/04/2025
Nghiên cứu tác động của việc thay đổi các quy định về quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận công bố của các công ty niêm yết tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ QTCT ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN LN CÔNG BỐ 1. QTCT và tác động đến chất lượng thông tin công bố 1. Khái quát về QTCT Theo thuyết hệ thống, các công ty hay các doanh nghiệp được coi như một công dân tổ chức của một xã hội với các quyền và nghĩa vụ của mình. Các đơn vị này không tồn tại một cách tách biệt mà luôn chịu sự tác động qua lại của các mối quan hệ với các bên có liên quan.

Và lợi ích của các bên có liên quan đôi lúc mẫu thuẫn lẫn nhau và QTCT ra đời chính là để tìm giải pháp cân bằng lợi ích của các bên. Trong một phạm vi hẹp hơn, lý thuyết về người đại diện (agency theory) sự tách biệt giữa chức năng quản lý và sở hữu dẫn đến yêu cầu phải có các cơ chế QTCT. Các chủ sở hưu của công ty là các nhà đầu tư, các cổ đông, hoạt động của công ty thì căn cứ quản lý của HĐQT, ban giám đốc và có sự tham gia của người lao động, …Đây là những nhóm người có liên quan nhưng lợi ích của họ không phải lúc nào cũng phù hợp và thống nhất với nhau. Do đó, cần phải có các thể chế và cơ chế giúp các chủ sở hữu có thể kiểm soát việc điều hành công ty cân bằng lợi ích các bên.

QTCT xử lý các vấn đề thường phát sinh trong mối quan hệ ủy quyền (principal-agent), ngăn ngừa, hạn chế nguy cơ lạm quyền, rùi ro tài sản và cơ hội kinh doanh công ty bị lợi dụng cho các lợi ích cá nhân hoặc bị lãng phí, thất thoát. Các tổ chức quốc tế cũng như các học giả đã đưa ra rất nhiều các định nghĩa khác nhau về QTCT. Năm 1992, báo cáo Cadbury (The Cadbury Report, 1992) được chính thức công bố đặt nền tảng cho các quy chuẩn về QTCT tại Anh. Đây cũng là văn bản pháp quy đầu tiên quy định về QTCT.

Theo báo cáo này “QTCT là một hệ thống mà các công ty được định hướng và kiểm soát một cách phù hợp với lợi ích của các chủ sở hữu và các bên có quyền lợi liên quan khác”. Theo Ngân hàng thế giới WB và IFC, QTCT là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”. Oman “QTCT là các tổ chức ở cả khu vực công và khu vực tư của một nền kinh tế thị trường, bao gồm luật phát, luật lệ và các thông lệ kinh doanh được chấp nhận, hướng tới quản lý mối quan hệ giữa một bên là các nhà quản lý và điều hành doanh nghiệp (những người bên trong doanh nghiệp) với một bên là những người đầu tư các nguồn lực vào doanh nghiệp”.Oman 2003, trang 6) Tổng hợp từ những thông lệ và quy chuẩn về QTCT trên thế giới, OECD đã đưa ra bộ thông lệ tốt nhất về QTCT năm 1999 và sửa đổi năm 2004, trong đó bao gồm khái niệm khá đầy đủ và chi tiết về QTCT. Theo đó, “QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám 7 đốc, HĐQT và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan.

QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. QTCT chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn” (OECD, 2004, trang 11) Mặc dù có những khái niệm khác nhau từ các tổ chức và các học giả, nhưng từ các khái niệm này đều có thể thấy một số khía cạnh chính cần quan tâm trong khái niệm về QTCT là: Thứ nhất phần lớn các định nghĩa đi từ góc nhìn bên trong, tức là lấy bản thân công ty làm trung tâm. Chúng đều có những điểm chung có thể tóm lược như sau: + QTCT là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình: Ví dụ phân tích vào mối quan hệ giữa các cổ đông và Ban giám đốc, các cổ đông rót vốn cho Ban giám đốc với mong muốn thu được lợi suất từ cổ phần mà mình đầu tư. Trong khi đó, Ban giám đốc cũng có trách nhiệm cung cấp các thông tin minh bạch cho các cổ đông thông qua các BCTC và báo cáo hoạt động thường kỳ.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, các cổ đông cũng bầu ra Hội đồng quản trị hoặc Ban Kiểm soát nhằm mục đích đưa ra các định hướng chiến lược và giám sát hoạt động của Ban giám đốc. Các cơ cấu và các quy trình xác định những mối quan hệ này thường xoay quanh các cơ chế quản lý năng lực hoạt động và các cơ chế báo cáo khác nhau. + Các mối quan hệ trong hoạt động QTCT thường liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau thậm chí là xung đột: Lợi ích có thể khác biệt ngay cả trong trường hợp xem xét các bộ phận quản trị chính của công ty, ví dụ Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, Tổng giám đốc (hoặc các bộ phận điều hành khác). Xung đột lợi ích điển hình nhất thường được gọi là vấn đề Ông chủ-Người làm thuê hay vấn đề người đại diện (Principal-Agent Problem) tập trung vào mối quan hệ giữa các chủ sở hữu công ty và các thành viên Ban giám đốc.

Bên cạnh đó, mỗi bộ phận quản trị, ví dụ như giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát, cá nhân và tổ chức) cũng như các thành viên HĐQT (điều hành và không điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và không độc lập) cũng không tránh khỏi các xung đột lợi ích. Chính vì vậy, QTCT cũng cần chú trọng vào việc đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này. + Các chủ thể trong công ty tham gia vào QTCT đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát công ty: Các quyết định quan trọng, ví dụ như phân chia lãi lỗ, sẽ được thông qua bởi Đại hội đồng cổ đông. Việc chỉ đạo, đề ra phương hướng chiến lược cũng như giám sát hoạt động của Ban giám đốc là trách nhiệm của HĐQT.

Cuối cùng, mọi hoạt động hàng ngày của công ty, bao gồm thực hiện các chiến lược đề ra, 8 lên các kế hoạch về kinh doanh, nhân sự, xây dựng chính sách bán hàng, chiến lược marketing, quan hệ khách hàng, quản lý nguồn vốn, tài sản … được thực hiện bởi Ban giám đốc.1: Cơ cấu quản trị bên trong một công ty + Mục đích chính yếu của QTCT là phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông. Ví dụ như việc các cổ đông nhỏ lẻ bên ngoài có thể ngăn chặn hành vi của một cổ đông kiểm soát tư lợi từ các giao dịch với các bên liên quan hay thực hiện giao dịch ngầm và các thủ đoạn tương tự. Thứ hai, xét từ giác độ bên ngoài, QTCT xử lý mối quan hệ giữa công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Trong đó “các bên có quyền lợi liên quan là những cá nhân hay tổ chức có các quyền lợi trong công ty; các quyền lợi ấy có thể xuất phát từ những quy định của luật pháp, của hợp đồng, hay xuất phát từ các mối quan hệ xã hội hay địa lý.

Các bên có quyền lợi liên quan không chỉ có các nhà đầu tư mà còn bao gồm các nhân viên, các chủ nợ, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan chức năng của nhà nước, và các cộng đồng địa phương nơi công ty hoạt động”. (IFC, 2010, trang 8) Nhiều bộ quy tắc về QTCT, bao gồm Các nguyên tắc QTCT của OEDC, đều đã thảo luận về vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quy trình QTCT. Về cơ bản, có 2 luồng quan điểm liên quan đến vấn đề này: (1) Các bên có quyền lợi liên quan không có quyền đòi hỏi đối với công ty giống như những đối tượng được quy định rõ trong luật hoặc trong hợp đồng; và (2) Công ty có chức năng xã hội của nó, và phải hoạt động vì lợi ích chung của xã hội, thậm chí trong một số trường hợp có thể phải coi trọng lợi ích chung hơn lợi ích của các cổ đông. Tuy nhiên, cả hai luồng quan điểm này đều thống nhất rằng các công ty phải cân bằng quyền lợi của các bên liên quan và các cổ đông.

Cụ thể, công ty không thể hoạt động hiệu quả nếu không quan tâm thích đáng lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan. Tuy nhiên, nếu công ty quá 9 chú trọng vào các bên có liên quan mà bỏ qua lợi ích của các cổ đông sẽ không có khả năng cạnh tranh trong dài hạn. Thứ ba, Cần phân biệt giữa QTCT và quản trị kinh doanh (hay quản lý công ty). Quản trị kinh doanh hay quản lý công ty (business management or corporate management) là điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện, tập trung vào các công cụ cần thiết để điều hành doanh nghiệp.

QTCT nhìn nhận ở một tầm cao hơn, đảm bảo việc quản lý các công luôn phải hướng tới lợi ích lâu dài của các cổ đông, QTCT là một quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cổ đông. QTCT ở nghĩa rộng còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của những người liên quan (stakeholders) không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. Các quy định của QTCT chủ yếu liên quan đến HĐQT, các thành viên HĐQT và ban giám đốc, chứ không liên quan đến việc điều hành công việc hàng ngày của công ty. QTCT tốt sẽ có tác dụng làm cho các quyết định và hành động của ban giám đốc thể hiện đúng ý chí và đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư, cổ đông và những người có lợi ích liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu "Nghiên cứu tác động của quy định quản trị công ty đến chất lượng thông tin lợi nhuận tại Việt Nam" đi sâu vào đánh giá ảnh hưởng của các quy định quản trị doanh nghiệp (QTDN) hiện hành lên tính chính xác và đáng tin cậy của thông tin lợi nhuận được công bố bởi các công ty Việt Nam. Nghiên cứu này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng, đòi hỏi tính minh bạch và chất lượng thông tin cao hơn.

Đọc tài liệu này giúp nhà đầu tư, nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về vai trò của QTDN trong việc nâng cao chất lượng thông tin tài chính, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư và quản lý hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, nó cũng giúp các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của việc tuân thủ và cải thiện các chuẩn mực QTDN để tăng cường uy tín và thu hút vốn đầu tư.

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm: "Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố tác động đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chướng khoán tp hồ chí minh", tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn về các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin, một khía cạnh quan trọng của chất lượng thông tin lợi nhuận. Ngoài ra, để hiểu sâu hơn về tác động của các yếu tố bên ngoài đến chính sách tài chính của doanh nghiệp, bạn có thể xem xét "Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ảnh hưởng của tham nhũng đối với chính sách tài chính doanh nghiệpmột nghiên cứu tại thị trường chứng khoán hồ chí minh". Cuối cùng, nếu bạn quan tâm đến việc cải thiện chính sách cổ tức, hãy tham khảo "Luận án tiến sĩ hoàn thiện chính sách cổ tức tại các công ty xây dựng niêm yết ở việt nam" để có thêm thông tin chi tiết.