Nghiên cứu tác động của hoạt động du lịch lễ hội chùa hương tới chất lượng môi trường nước mặt tại suối yến xã hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội

Khám phá tác động của du lịch lễ hội Chùa Hương tới chất lượng nước mặt Suối Yến. Đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước bền vững.

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về môi trường nước mặt

1.1.1. Khái niệm nước mặt

1.1.2. Vai trò của nước mặt

1.1.3. Khái niệm ô nhiễm nước

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng nước mặt

1.1.5. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt

1.2. Khái quát về ngành du lịch

1.2.1. Khái niệm du lịch

1.2.2. Đặc trưng của ngành du lịch

1.2.3. Cơ cấu của môi trường du lịch

1.2.4. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và môi trường

1.2.5. Các nguồn du lịch tác động tới môi trường

1.2.6. Tác động tích cực của du lịch với môi trường

1.2.7. Tác động tiêu cực của du lịch tới môi trường

1.3. Tình hình phát triển du lịch tại Việt Nam và trên thế giới

1.4. Một vài nét về khu du lịch chùa Hương

1.4.1. Thời gian tổ chức lễ hội

1.4.2. Địa hình các tuyến thăm quan trong khu du lịch

1.4.3. Khai hội chùa Hương

1.4.4. Phần lễ chùa Hương

1.4.5. Phần hội chùa Hương

1.5. Một số nghiên cứu liên quan

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

2.4.2. Phương pháp điều tra thực địa

2.4.3. Phương pháp lấy mẫu

2.4.4. Phương pháp phân tích mẫu

2.4.5. Phương pháp phân tích, thống kê và xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Đặc điểm khí hậu

3.1.3. Điều kiện thủy văn

3.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng

3.1.5. Đặc điểm tài nguyên sinh vật

3.2. Đặc diểm phát triển kinh tế và tài nguyên du lịch

3.2.1. Đặc điểm sản xuất

3.3. Cơ sở hạ tầng trong khu vực

3.3.1. Hệ thống giao thông

3.3.2. Hệ thống cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc

3.3.3. Hệ thống cấp thoát nước

3.3.4. Hệ thống thu gom và xử lý nước thải

3.3.5. Hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng phát triển du lịch khu du lịch lễ hội chùa Hương

4.1.1. Hiện trạng tổ chức và quản lý tại khu du lịch lễ hội chùa Hương

4.1.2. Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ du lịch

4.1.3. Hiện trạng khách du lịch tại khu du lịch lễ hội chùa Hương

4.1.4. Mức doanh của khu du lịch chùa Hương

4.1.5. Hiện trạng khai thác các tuyến, điểm du lịch của khu du lịch lễ hội chùa Hương

4.2. Thực trạng chất lượng môi trường nước mặt tại suối Yến

4.2.1. Các nguồn tác động tới chất lượng nước suối Yến

4.2.2. Nhận thức của khách du lịch về vấn đề bảo vệ môi trường

4.2.3. Hiện trạng chất lượng nước mặt tại suối Yến

4.2.4. Kết quả phân tích các chỉ số chất lượng nước mặt

4.3. Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường gắn liền với phát triển du lịch

4.3.1. Giải pháp về quản lý

4.3.2. Giải pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường du lịch

4.3.3. Giải pháp về kỹ thuật

5. KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Toàn cảnh du lịch Chùa Hương và tác động đến nước suối Yến

Khu du lịch Chùa Hương, tọa lạc tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, là một quần thể di tích và danh thắng quốc gia nổi tiếng, thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm. Đây không chỉ là một trung tâm du lịch tâm linh quan trọng mà còn là một ví dụ điển hình về mối quan hệ mật thiết giữa hoạt động du lịch và môi trường. Lễ hội Chùa Hương, kéo dài suốt 3 tháng, là mùa cao điểm du lịch, tạo ra áp lực khổng lồ lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là môi trường nước. Suối Yến, dòng chảy huyết mạch dẫn lối du khách vào cõi Phật, đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về chất lượng. Nghiên cứu về tác động của hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương tới chất lượng môi trường nước mặt tại suối Yến không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn cấp thiết cho việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch bền vững. Sự gia tăng đột biến của du khách trong mùa lễ hội dẫn đến sự quá tải về cơ sở hạ tầng, dịch vụ và đặc biệt là hệ thống xử lý chất thải. Lượng lớn rác thải du lịchnước thải sinh hoạt chưa qua xử lý được xả trực tiếp ra môi trường đã và đang làm suy giảm chất lượng nước suối Yến, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái suối Yến và cảnh quan khu di tích. Việc đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường hiệu quả, cân bằng giữa phát triển kinh tế du lịch và bảo tồn các giá trị tự nhiên, văn hóa của di sản.

1.1. Giới thiệu tổng quan về khu du lịch tâm linh Chùa Hương

Chùa Hương là một quần thể văn hóa - tôn giáo nổi tiếng của Việt Nam, bao gồm hàng chục ngôi chùa, đền, động nằm rải rác trong thung lũng suối Yến. Nơi đây được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhất động", thu hút du khách bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. Lễ hội Chùa Hương là một trong những lễ hội kéo dài nhất và thu hút đông đảo phật tử, du khách nhất cả nước. Hoạt động du lịch tại đây chủ yếu là du lịch tâm linh, tham quan, vãn cảnh. Du khách đến Chùa Hương phải di chuyển bằng đò trên suối Yến, tạo nên một nét đặc trưng riêng biệt. Tuy nhiên, chính sự phát triển mạnh mẽ của du lịch đã đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý môi trường tại di tích.

1.2. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và môi trường nước

Du lịch và môi trường có mối quan hệ tương hỗ nhưng cũng đầy mâu thuẫn. Môi trường trong sạch, cảnh quan tươi đẹp là yếu tố thu hút du khách, tạo nền tảng cho sự phát triển du lịch. Ngược lại, hoạt động du lịch thiếu kiểm soát lại là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường nước. Tại Chùa Hương, tác động môi trường du lịch thể hiện rõ nét qua sự suy thoái của suối Yến. Các hoạt động dịch vụ ăn uống, lưu trú, vận chuyển khách bằng đò... đều phát sinh chất thải. Nếu không được quản lý chặt chẽ, các nguồn thải này sẽ trực tiếp làm biến đổi các thông số pH, DO, BOD, COD của nước, đe dọa sự sống của các loài thủy sinh và làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của dòng suối, ảnh hưởng tiêu cực đến trải nghiệm của du khách và sự phát triển bền vững của khu du lịch.

II. Phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại suối Yến

Thực trạng ô nhiễm môi trường nước tại suối Yến là một vấn đề đáng báo động, đặc biệt trở nên nghiêm trọng trong mùa lễ hội Chùa Hương. Các nguồn gây ô nhiễm chính bao gồm nước thải sinh hoạt từ các nhà hàng, khách sạn, nhà dân ven suối và rác thải du lịch do một bộ phận du khách thiếu ý thức xả trực tiếp xuống dòng nước. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Khánh (2017), các hoạt động dịch vụ và sinh hoạt đã tạo ra một lượng lớn chất thải hữu cơ và vô cơ. Đặc biệt, hoạt động chở đò suối Yến cũng góp phần gây ô nhiễm do rò rỉ xăng dầu và việc khuấy động trầm tích đáy. Tình trạng này dẫn đến sự suy giảm đáng kể chất lượng nước suối Yến. Các biểu hiện rõ ràng bao gồm nước có màu lạ, mùi hôi và sự xuất hiện của các váng bẩn trên mặt nước, nhất là tại các khu vực tập trung đông người như bến Yến Vĩ và bến Trong. Sự suy thoái này không chỉ làm mất mỹ quan, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn là một thách thức lớn đối với việc duy trì sức tải môi trường của khu di tích. Việc không kiểm soát tốt các nguồn thải này đã gây ra tình trạng ô nhiễm hữu cơô nhiễm vi sinh vật, cần có sự can thiệp kịp thời từ Ban quản lý di tích Hương Sơn và các cơ quan chức năng.

2.1. Các nguồn gây ô nhiễm chính từ rác thải và nước thải

Nguồn ô nhiễm chính tại suối Yến có thể phân thành hai loại: nguồn điểm và nguồn phân tán. Nguồn điểm bao gồm nước thải sinh hoạt từ hàng trăm cơ sở kinh doanh dịch vụ, nhà dân dọc hai bên bờ suối không có hệ thống xử lý đạt chuẩn. Nguồn phân tán chủ yếu đến từ rác thải du lịch, bao gồm túi nilon, chai nhựa, vỏ đồ ăn... do du khách vứt bừa bãi. Ngoài ra, dư lượng phân bón, thuốc trừ sâu từ hoạt động nông nghiệp ở các khu vực lân cận cũng có thể theo dòng chảy mặt đổ vào suối. Đặc biệt, tại các bến đò, nơi tập trung đông người và các hoạt động dịch vụ, mật độ ô nhiễm luôn ở mức cao, gây ra những tác động cục bộ nghiêm trọng.

2.2. Sự suy giảm chất lượng nước mặt qua các mùa lễ hội

Sự khác biệt về chất lượng nước suối Yến giữa thời điểm trước và trong mùa lễ hội là bằng chứng rõ nét nhất về tác động môi trường du lịch. Các nghiên cứu cho thấy, trước mùa lễ hội, các chỉ số chất lượng nước vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, khi lễ hội diễn ra, với lượng khách tăng đột biến, các chỉ số ô nhiễm như BOD5, COD, Amoni (NH4+), Nitrit (NO2-), Phosphat (PO43-) đều tăng vọt, nhiều chỉ số vượt quy chuẩn Việt Nam (QCVN). Điều này cho thấy hệ thống tự làm sạch của suối không thể đáp ứng được lượng chất thải khổng lồ phát sinh trong một thời gian ngắn, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái suối Yến.

III. Phương pháp nghiên cứu tác động du lịch tới chất lượng nước

Để đánh giá một cách khoa học tác động của hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương tới chất lượng môi trường nước mặt tại suối Yến, một phương pháp nghiên cứu bài bản đã được áp dụng. Phương pháp này kết hợp giữa điều tra thực địa, thu thập số liệu thứ cấp và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm. Việc khảo sát thực địa giúp xác định các nguồn gây ô nhiễm chính và lựa chọn các vị trí lấy mẫu mang tính đại diện. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Khánh, các điểm lấy mẫu được bố trí dọc theo suối Yến, tập trung tại các điểm nóng như đầu nguồn, bến đò Yến Vĩ (nơi đón khách) và bến Trong (nơi trả khách). Việc lấy mẫu được thực hiện theo hai đợt: trước và trong mùa lễ hội để có cơ sở so sánh, đối chứng. Các mẫu nước sau khi thu thập được bảo quản theo đúng tiêu chuẩn và phân tích các thông số pH, DO, BOD, COD, và các chỉ tiêu dinh dưỡng như Nitrat, Nitrit, Amoni, Phosphat. Quá trình này giúp lượng hóa mức độ ô nhiễm môi trường nước, cung cấp dữ liệu tin cậy cho việc xây dựng chỉ số chất lượng nước (WQI) và là nền tảng cho một bản đánh giá tác động môi trường (ĐTM) toàn diện, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi.

3.1. Quy trình lấy mẫu và phân tích chỉ số chất lượng nước

Quy trình lấy mẫu được tiến hành nghiêm ngặt để đảm bảo tính chính xác. Mẫu nước được lấy ở các vị trí chiến lược dọc suối Yến, bao gồm M1 (Đầu nguồn), M2 (Bến đò Trong) và M3 (Bến đò Yến Vĩ). Tần suất lấy mẫu gồm 2 đợt (trước lễ hội ngày 19/01/2017 và trong lễ hội ngày 19/02/2017) để so sánh tác động. Các mẫu sau đó được phân tích trong phòng thí nghiệm theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hiện hành. Các chỉ tiêu như pH, TDS, độ đục, DO được đo nhanh tại hiện trường. Các chỉ tiêu khác như BOD5, NO3-, NO2-, NH4+, PO43- được phân tích bằng phương pháp so màu quang điện, đảm bảo kết quả có độ tin cậy cao.

3.2. Các thông số pH DO BOD COD được đánh giá như thế nào

Các thông số này là những chỉ thị quan trọng về mức độ ô nhiễm. pH cho biết tính axit hay bazơ của nước. DO (Oxy hòa tan) là chỉ số sống còn của hệ sinh thái thủy sinh; DO thấp cho thấy nước bị ô nhiễm nặng. BOD (Nhu cầu oxy sinh hóa)COD (Nhu cầu oxy hóa học) đo lường lượng chất hữu cơ có trong nước. Khi các chỉ số này cao, điều đó có nghĩa là nguồn nước đang bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, thường xuất phát từ nước thải sinh hoạt và các chất thải chưa được xử lý. Việc phân tích đồng bộ các chỉ số này cho phép vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về thực trạng chất lượng nước suối Yến.

IV. Kết quả nghiên cứu Tác động rõ rệt từ lễ hội Chùa Hương

Kết quả phân tích chất lượng nước suối Yến đã khẳng định một cách rõ ràng những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lễ hội Chùa Hương tới môi trường nước. Dữ liệu so sánh giữa hai thời điểm trước và trong mùa lễ hội cho thấy sự suy giảm chất lượng nước một cách đột biến. Trước lễ hội, hầu hết các chỉ tiêu phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt). Tuy nhiên, trong thời gian diễn ra lễ hội, các hàm lượng chất ô nhiễm đã tăng lên đáng kể. Đặc biệt, tại hai điểm nóng là bến Yến Vĩ và bến Trong, các chỉ số như NO2- (Nitrit), NH4+ (Amoni), và PO43- (Phosphat) đã vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. Sự gia tăng của các hợp chất nitơ và phốt pho là minh chứng rõ ràng cho tình trạng ô nhiễm hữu cơô nhiễm vi sinh vật bắt nguồn từ nước thải sinh hoạt và rác thải chưa qua xử lý. Nồng độ BODCOD tăng cao cũng cho thấy lượng chất hữu cơ trong nước lớn, làm giảm lượng oxy hòa tan (DO), đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái suối Yến. Những kết quả này là lời cảnh báo về việc sức tải môi trường của khu vực đang bị vượt quá, đòi hỏi các biện pháp quản lý môi trường cấp bách và hiệu quả.

4.1. So sánh chất lượng nước suối Yến trước và trong lễ hội

Số liệu từ nghiên cứu của Nguyễn Đình Khánh (2017) cho thấy sự chênh lệch rõ rệt. Ví dụ, hàm lượng NH4+ tại bến Trong tăng từ mức an toàn lên mức vượt chuẩn trong mùa lễ hội, cho thấy sự quá tải của hệ thống tiếp nhận nước thải. Tương tự, hàm lượng PO43-, một chỉ số của ô nhiễm từ chất tẩy rửa và chất thải hữu cơ, cũng tăng vọt tại các điểm tập trung đông du khách. Biểu đồ giá trị các chỉ số qua hai đợt khảo sát đã chứng minh hoạt động du lịch là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự biến động tiêu cực của chất lượng nước.

4.2. Bằng chứng về ô nhiễm hữu cơ và ô nhiễm vi sinh vật

Sự gia tăng đồng thời của các chỉ số NH4+, NO2-, và PO43- là bằng chứng không thể chối cãi về tình trạng ô nhiễm hữu cơ. Các hợp chất này là sản phẩm của quá trình phân hủy chất thải sinh hoạt, phân người và động vật. Mức độ ô nhiễm này không chỉ gây ra hiện tượng phú dưỡng (tảo nở hoa), làm chết các sinh vật thủy sinh do thiếu oxy, mà còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật, lây lan các mầm bệnh nguy hiểm qua nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân địa phương và du khách.

V. Top 3 nhóm giải pháp bảo vệ môi trường nước suối Yến hiệu quả

Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước và hướng tới phát triển du lịch bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường tại khu du lịch Chùa Hương. Các giải pháp này cần tập trung vào ba nhóm chính: quản lý, kỹ thuật và giáo dục. Về quản lý, Ban quản lý di tích Hương Sơn cần tăng cường vai trò giám sát, thực thi các quy định về bảo vệ môi trường. Cần có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi xả rác, xả nước thải bừa bãi. Việc quy hoạch lại các khu dịch vụ, yêu cầu các hộ kinh doanh xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt sơ bộ trước khi xả ra môi trường là yêu cầu cấp thiết. Về kỹ thuật, cần đầu tư xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung cho toàn khu vực. Tăng cường tần suất và phương tiện thu gom rác thải du lịch, đặc biệt trong mùa cao điểm; bố trí thêm nhiều thùng rác công cộng dọc suối Yến và các điểm tham quan. Cuối cùng, giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức đóng vai trò then chốt. Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho cả cộng đồng địa phương, những người làm dịch vụ và du khách. Chỉ khi có sự chung tay của tất cả các bên, chất lượng nước suối Yến mới có thể được cải thiện và bảo vệ lâu dài.

5.1. Giải pháp quản lý từ Ban quản lý di tích Hương Sơn

Ban quản lý cần xây dựng một quy chế bảo vệ môi trường chi tiết và có tính khả thi cao. Tăng cường lực lượng thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất các cơ sở kinh doanh về việc tuân thủ quy định môi trường. Phối hợp với chính quyền địa phương để quản lý chặt chẽ hoạt động chở đò suối Yến, yêu cầu các chủ đò cam kết không xả rác và trang bị dụng cụ chứa rác trên đò. Việc áp dụng các công cụ quản lý môi trường hiện đại như đánh giá tác động môi trường (ĐTM) định kỳ là cần thiết.

5.2. Giải pháp kỹ thuật xử lý rác thải và nước thải sinh hoạt

Đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật là giải pháp mang tính nền tảng. Cần nghiên cứu và áp dụng các công nghệ xử lý nước thải phù hợp với điều kiện địa hình và quy mô của Chùa Hương, có thể là các trạm xử lý phi tập trung hoặc hệ thống tập trung. Đối với rác thải, cần phân loại rác tại nguồn để tăng hiệu quả tái chế và xử lý. Có thể lắp đặt các lưới chắn rác tại một số điểm trên suối để ngăn rác trôi nổi, kết hợp với việc vớt rác thường xuyên. Đây là những biện pháp thiết thực giúp giảm tải lượng ô nhiễm trực tiếp vào nguồn nước.

5.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng và du khách về môi trường

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện đa dạng và liên tục qua nhiều kênh: hệ thống loa phát thanh, biển báo, bảng hướng dẫn, tờ rơi. Tổ chức các buổi tập huấn cho các hộ kinh doanh và người lái đò về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường làng nghề và du lịch. Phát động các chiến dịch "Du lịch không rác thải", khuyến khích du khách mang rác về đúng nơi quy định. Việc xây dựng một nếp văn hóa du lịch văn minh, thân thiện với môi trường là mục tiêu dài hạn nhưng có ý nghĩa quyết định.

VI. Hướng tới phát triển du lịch bền vững tại khu di tích Chùa Hương

Bài toán cân bằng giữa phát triển kinh tế từ du lịch và bảo tồn môi trường là thách thức lớn nhất đối với Chùa Hương. Mục tiêu cuối cùng là phát triển du lịch bền vững, nơi các giá trị văn hóa, tâm linh và tự nhiên được bảo vệ cho các thế hệ tương lai. Để làm được điều này, việc duy trì sức tải môi trường là yếu tố cốt lõi. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để xác định ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái suối Yến, từ đó có thể điều tiết lượng khách trong những ngày cao điểm. Việc áp dụng các nguyên tắc du lịch có trách nhiệm cần trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động tại khu di tích. Tương lai của du lịch tâm linh tại Chùa Hương phụ thuộc rất lớn vào chất lượng môi trường. Một dòng suối Yến trong xanh, một không gian thanh tịnh không chỉ làm hài lòng du khách mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với di sản. Các kiến nghị từ nghiên cứu về tác động của hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương tới chất lượng môi trường nước mặt tại suối Yến cần được chính quyền và Ban quản lý di tích Hương Sơn xem xét và triển khai thành các hành động cụ thể. Đây là con đường duy nhất để Chùa Hương mãi là một điểm đến hấp dẫn và bền vững.

6.1. Tầm quan trọng của việc duy trì và quản lý sức tải môi trường

Sức tải môi trường là khả năng của một hệ sinh thái trong việc tiếp nhận và tự phân hủy một lượng chất thải nhất định mà không gây ra những tổn hại không thể phục hồi. Mùa lễ hội Chùa Hương rõ ràng đã làm vượt ngưỡng này. Do đó, việc quản lý sức tải, có thể thông qua các biện pháp như giới hạn số lượng đò hoạt động cùng lúc, phân luồng du khách, hoặc thậm chí bán vé theo khung giờ, là những phương án cần được cân nhắc để giảm áp lực lên môi trường, đặc biệt là môi trường nước.

6.2. Triển vọng và kiến nghị cho tương lai du lịch tâm linh

Triển vọng phát triển du lịch Chùa Hương vẫn rất lớn nếu vấn đề môi trường được giải quyết triệt để. Kiến nghị trong tương lai bao gồm: (1) Xây dựng một kế hoạch quản lý môi trường tổng thể và dài hạn cho toàn bộ khu di tích. (2) Kêu gọi đầu tư xã hội hóa cho các dự án hạ tầng môi trường như trạm xử lý nước thải. (3) Ứng dụng công nghệ trong quản lý du khách và giám sát môi trường. (4) Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan: nhà quản lý, doanh nghiệp, cộng đồng và du khách để cùng nhau thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xƣa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã đƣợc ghi nhận nhƣ một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn hoá - xã hội và đang phát triển mạnh mẽ thành một ngành kinh tế mũi nhọn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên du lịch cũng gây nên nhiều tác hại lớn cho môi trƣờng: lƣợng rác thải lớn, tiêu tốn nhiều năng lƣợng, gây ô nhiễm môi trƣờng, ô nhiễm phong cảnh và làm nhiễu loạn sinh thái. Việt Nam có đầy đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, Việt Nam có tiềm năng du lịch phong phú và đa dạng.Năm 2011 Việt Nam có 7 di sản đƣợc UNESCO công nhận là di sản thế giới bao gồm có Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

Ngoài ra còn rất nhiều điểm du lịch khác và hiện nay chùa Hƣơng cũng là một trong những khu du lịch lễ hội trọng điểm của quốc gia. Quần thể chùa Hƣơng có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến bao gồm các công trình cổ mang dáng dấp độc đáo cho đến những hang động do sự vận động của thiên nhiên tạo ra. Lễ hội Chùa Hƣơng kéo dài từ 6/1 đến hết tháng 3 âm lịch, nếu đi lễ thì bạn nên đi trong mùa hội còn đi vãn cảnh chùa, chiêm ngƣỡng kỳ quan của tạo hoá thì bạn có thể đi quanh năm. Chắc chắn, bạn sẽ không phải hối tiếc khi tới chùa Hƣơng, nơi có động Hƣơng Tích đƣợc mệnh danh là Nam thiên đệ nhất động (tức Động đẹp nhật trời Nam).

Trong vài chục năm gần đây, du lịch trên thế giới phát triển rộng rãi và bắt đầu nảy sinh những ảnh hƣởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trƣờng của từng quốc gia. Vì thế các nhà du lịch thế giới quan tâm nhiều tới việc nhiên cứu những tác động xấu do lu lịch gây ra đối với môi trƣờng và đề xuất những chiến lƣợc phát triển du lịch với tôn trọng môi trƣờng. 1 Xuất phát từ những thực tế trên, với mục đích góp phần xác định ảnh hƣởng của hoạt động du lịch đến môi trƣờng khu du lịch lễ hội chùa Hƣơng, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của hoạt động du lịch lễ hội chùa Hương tới chất lượng môi trường nước mặt tại suối Yến, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan về môi trƣờng nƣớc mặt 1. Khái niệm nước mặt Nƣớc mặt là nƣớc trong sông, hồ hoặc nƣớc ngọt trong vùng đất ngập nƣớc. Nƣớc mặt đƣợc bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dƣơng, bốc hơi và thấm xuống đất.Lƣợng giáng thủy này đƣợc thu hồi bởi các lƣu vực, tổng lƣợng nƣớc trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộc vào một số yếu tố khác. Các yếu tố này nhƣ khả năng chứa của các hồ, vùng đất ngập nƣớc và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dƣới các thể chứa nƣớc này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lƣu vực, thời lƣợng giáng thủy và tốc độ bốc hơi địa phƣơng.

Tất cả các yếu tố này đều ảnh hƣởng đến tỷ lệ mất nƣớc. Sự bốc hơi nƣớc trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nƣớc ở thực vật và động vật., hơi nƣớc vào trong không khí sau đó bị ngƣng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống mặt đất hình thành mƣa, nƣớc mƣa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và đƣợc tích tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc đƣợc đƣa thẳng ra biển hình thành nên lớp nƣớc trên bề mặt của vỏ trái đất. Vai trò của nước mặt Nhƣ chúng ta đã biết nƣớc đóng vai trò thiết yếu vô cùng quan trọng không chỉ đối với con ngƣời mà đối với cả mọi sinh vật trên Trái Đất. Nƣớc cần cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, toàn bộ các mặt của cuộc sống.

Trong sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ công nghiệp thì nƣớc đóng vai trò yếu tố sống còn.Nếu thiếu nƣớc thì các ngành công nghiệp chế biến, lƣơng thực thực phẩm, các ngành sản xuất đều không thể hoạt động, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp chỉ có cải cách hoặc là đóng cửa.Có nƣớc mới có thể xây dựng 3 công trình cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống, có nƣớc mới có thể sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu cuộc sống con ngƣời. Qua đó thấy đƣợc nƣớc là vô cùng quan trọng với mọi mặt cuộc sống của chúng ta. Nhƣng hiện nay nguồn nƣớc đang ngày càng ô nhiễm cả về nƣớc mặt và nƣớc ngầm không chỉ ảnh hƣởng đến cuộc sống sinh hoạt của ngƣời dân mà còn ảnh hƣởng đến nhu cầu sản xuất công nghiệp, nếu sử dụng nguồn nƣớc ô nhiễm không chỉ làm nhanh hỏng các thiết bị máy móc mà còn làm giảm chất lƣợng sản xuất vì vậy xử lý nƣớc rất quan trọng đối với mỗi chúng ta.Nƣớc đóng vai trò to lớn trong việc điều tiết các yếu tố môi trƣờng và khí hậu của trái đất.Là nơi sinh sống và phát triển của hệ sinh thái dƣơi nƣớc, còn có vai trò to lơn đến đời sống của con ngƣời. Có hai loại nƣớc mặt là nƣớc ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và nƣớc mặn hiện diện trong biển, các đại dƣơng mênh mông, trong các hồ nƣớc mặn trên các lục địa.

Khái niệm ô nhiễm nước Theo Hiến chƣơng châu Âu về nƣớc đã định nghĩa: ―Ô nhiễm nƣớc là sự biến đổi nói chung do con ngƣời đối với chất lƣợng nƣớc, làm nhiễm bẩn nƣớc và gậy nguy hiểm cho con ngƣời, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã‖. Nguồn gốc ô nhiễm nƣớc Ô nhiễm môi trƣờng nƣớc có nguồn gốc một phần từ tự nhiên và có nguồn gốc nhân tạo do con ngƣời tạo ra. Nguyên nhân tự nhiên: Bất cứ một hiện tƣợng nào làm giảm chất lƣợng nƣớc đều bị coi là nguyên nhân gây ô nhiễm nƣớc.Ô nhiễm nƣớc do mƣa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng. Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ.

Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau đó ăn sâu vào nƣớc ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nƣớc ngầm hòa vào dòng lớn. 4 Lụt lội có thể làm nƣớc mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trƣớc đây đã đƣợc cất giữ. Nƣớc lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải. Công nhân thu dọn lân cận các công trƣờng kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nƣớc ô nhiễm hoá chất.

Ô nhiễm nƣớc do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt,.) có thể rất nghiêm trọng, nhƣng không thƣờng xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lƣợng nƣớc toàn cầu. Sự suy giảm chất lƣợng nƣớc có thể do đặc tính địa chất của nguồn nƣớc ví dụ nhƣ: nƣớc trên đất phèn thƣờng chứa nhiều sắt, nhôm. nƣớc lấy từ lòng đất thƣờng chứa nhiều canxi… Nguyên nhân nhân tạo: Hiện tại hoạt động của con ngƣời đang là nguyên nhân chính gây suy giảm chất lƣợng nguồn nƣớc. Có thể xếp thành các nguyên nhân sau: * Do các chất thải từ sinh hoạt, y tế Mỗi ngày có một lƣợng lớn rác thải sinh hoạt thải ra môi trƣờng mà không qua xử lý bên cạnh đó dân số ngày càng gia tăng dẫn đến lƣợng rác thải sinh hoạt cũng tăng theo.

Ở các nƣớc phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số khoảng 5 % trong khi đó tỷ lệ gia tăng dân số ở các nƣớc đang phát triển là hơn 2 %. Ở Việt Nam với mức tăng dân số nhanh chóng đã đƣa nƣớc ta vào hàng thứ 12 trong các quốc gia có dân số đông nhất Thế giới. Trong vòng hơn 50 năm gần đây (1960- 2013), dân số nƣớc ta tăng gần 4 lần từ 30,172 triệu ngƣời lên 90 triệu ngƣời. Dân số tăng nhu cầu dùng nƣớc cho sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn thải tăng, sự ô nhiễm môi trƣờng nƣớc cũng tăng lên.

Nƣớc thải sinh hoạt (Domestic wastewater): là nƣớc thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trƣờng học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con ngƣời. Thành phần cơ bản của nƣớc thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu 5 mỡ), chất dinh dƣỡng (photpho, nitơ), chất rắn. Tùy theo mức sống và lối sống mà lƣợng nƣớc thải cũng nhƣ tải lƣợng các chất có trong nƣớc thải của mỗi ngƣời trong một ngày là khác nhau. Nhìn chung mức sống càng cao thì lƣợng nƣớc thải và tải lƣợng thải càng cao.

Ở nhiều vùng, phân ngƣời và nƣớc thải sinh hoạt không đƣợc xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nƣớc. Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trƣờng. * Do sử dụng các hóa chất, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp quá mức Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nƣớc tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đƣa vào môi trƣờng và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác: thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dƣa, vƣờn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm và nƣớc mặt. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gấp ba lần liều khuyến cáo.

Chẳng những thế, nông dân còn sử dụng cả các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm nhƣ Aldrin, Thiodol, Monitor. Trong quá trình bón phân, phun xịt thuốc, ngƣời nông dân không hề trang bị bảo hộ lao động. Hiện nay việc sử dụng phân hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật tràn lan trong nông nghiệp làm cho nguồn nƣớc cũng bị ảnh hƣởng. Lƣợng hóa chất tồn dƣ sẽ ngấm xuống các tầng nƣớc ngầm gây ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ