Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm Biến đổi khí hậu (Climate change): Sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [68]. Tính dễ bị tổn thương do BĐKH (Vunerability): Khái niệm tính dễ bị tổn thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau do đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau. Trong biến đổi khí hậu, IPCC đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có được định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất.
Ban đầu tính dễ bị tổn thương được IPCC năm 1992 xác định là mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và NBD. Tiếp theo, Báo cáo đánh giá lần thứ 2 của IPCC năm 1996 đã xác định tính dễ bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Khái niệm được ứng dụng rộng rãi nhất là khái niệm do IPCC năm 2007 xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số của tính chất, cường độ và mức độ của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống.
Ứng phó với biến đổi khí hậu (Responding to climate change): Các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH [3]. Với nhận thức rằng BĐKH là một quá trình không thể đảo ngược được, chúng ta cần có những nỗ lực để ổn định KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu (giảm nhẹ BĐKH) và giảm nhẹ các thiệt hại do BĐKH gây ra (thích ứng với BĐKH). Thích ứng với BĐKH (Adaptation): Sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT-XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại [3].
Giảm nhẹ BĐKH (Mitigation): Các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải KNK [3]. Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vấn đề của BĐKH. Các khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cho thấy giảm nhẹ BĐKH sẽ giảm tất cả các tác động (tích cực và tiêu cực) của BĐKH và do đó giảm các cơ hội thích ứng; trong khi đó thích ứng BĐKH có thể phát huy các tác động tích cực và giảm các tác động tiêu cực của BĐKH. Tính chống chịu (adaptive resilience): Khả năng của một hệ thống chịu được các nhiễu loạn mà không bị phá vỡ và chuyển sang một trạng thái biến đổi về chất khác.
Một hệ thống có khả năng chống chịu có thể hấp thu các nhiễu loạn, thay đổi hoặc điều chỉnh, sau đó tái tổ chức và vẫn giữ được các cấu trúc cơ bản và cách vận hành của nó [31]. Sinh kế: Bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống [65]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sinh kế thích ứng (với BĐKH): Hệ thống sinh kế trước hết phải có khả năng chống chịu với BĐKH/ giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, đặc biệt là thiên tai/hiện tượng thời tiết cực đoan (bão lụt, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, v.v), đảm bảo, duy trì hoặc tăng năng suất/ sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện KT-XH địa phương. Sinh kế bền vững: Sinh kế có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên [66].
Khung sinh kế bền vững được DFID xây dựng với các nhân tố: khung hoàn cảnh dễ bị tổn thương, tài sản sinh kế, cấu trúc chuyển đổi và quá trình thực hiện, các chiến lược sinh kế và kết quả. Trong các nhân tố trên thì nhân tố đóng vai trò trung tâm của khung sinh kế bền vững là tài sản sinh kế với 5 loại vốn: tự nhiên, nhân lực, tài chính, vật chất và xã hội. CẤU TRÚC & QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KẾT QUẢ BỐI CẢNH SINH KẾ TỔN - Tăng thu - Các cấp THƢƠNG chính quyền nhập H N - Khu vực tƣ nhân CHIẾN - Tăng mức - Sốc S LƢỢC sống - Xu hƣớng ảnh hƣởng SINH - Giảm tình - Mùa vụ & tiếp cận KẾ trạng dễ bị tổn - Pháp luật thương - Chính sách - Cải thiện an P F - Văn hoá - Thể chế ninh lương thực - Tăng tính bền QUY TRÌNH THỰC HIỆN vững khi sử dụng nguồn tài nguyên thiên H: Nguồn vốn con ngƣời (Human Capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial Capital) nhiên N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural Capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital) S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital) (Nguồn DFID, 2007) Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cộng đồng: Một hệ thống xã hội, một nhóm người cùng có những đặc điểm chung. Ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ những tài nguyên và lợi ích chung… Nói một cách khác, Cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, họ có chung đặc điểm về tâm lý, tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có để đạt được mục đích chung [29].
Xây dựng năng lực: Xây dựng năng lực trong bối cảnh BĐKH là quá trình phát triển các kỹ năng công nghệ và những năng lực thể chế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi để giúp họ có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực: thích ứng, giảm nhẹ và nghiên cứu về BĐKH nhằm thực hiện Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP) [21].2 Khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu Các vấn đề nghiên cứu chính của luận văn là: Đánh giá các tác động của BĐKH trong quá khứ và hiện tại (khoảng 20 năm gần đây), tương lai (thông qua kịch bản BĐKH cho địa phương) đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu trong đó tập trung vào các tác động đến sinh kế của cộng đồng và thực trạng năng lực ứng phó của địa phương. Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH, các biện pháp phát triển kinh tế bền vững, giảm thiểu rủi ro do BĐKH và thiên tai. Để thực hiện được nghiên cứu này, sử dụng đồng thời hai cách tiếp cận đó là: cách tiếp cận theo hệ thống liên ngành và cách tiếp cận kết hợp từ dưới lên và từ trên xuống. Các đề xuất đưa ra được phát triển thành chiến lược phát triển sinh kế trên cơ sở kết hợp kết quả rà soát hệ thống thể chế chính sách và tham vấn chính quyền với việc tổng hợp, phân tích các thông tin, kiến thức và kinh nghiệm địa phương nhằm phù hợp với thực tế của khu vực nghiên cứu trong tình hình diễn biến của BĐKH.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dựa vào khung sinh kế bền vững của DFID (2007), toàn bộ quá trình từ cách tiếp cận, quy trình thực hiện và các kết quả chính của nghiên cứu được mô tả bằng sơ đồ dưới đây. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BĐKH HOẠT Biểu hiện của TÌNH HÌNH BĐKH ĐỘNG Tác động của ỨNG PHÓ BĐKH BĐKH (TNcv TN, Đối với KT – XH, sức khỏe Từ THỂ CHẾ thiên tai - Quá khứ Sinh kế cộng đồng trên CHÍNH - Hiện tại xuống SÁCH thích ứng TỔ CHỨC - Tương lai + THỰC (Kịch bản ĐÁNH GIÁ HIỆN NĂNG LỰC ỨNG Từ CÁC ĐỀ XUẤT BĐKH) PHÓ CỘNG dƣới CÁC GIẢI NGUỒN ĐỒNG lên LỰC PHÁP Thể chế, chính CỘNG TĂNG sách ĐỒNG CƢỜNG K/N ỨNG Tổ chức thực hiện PHÓ VỚI Các hoạt động BĐKH ứng phó cộng Phát triển mô đồng hình, phát Các sinh kế thích triển tổ hợp ứng.2 Khung lý thuyết vấn đề nghiên cứu tác, truyền thông, lồng ghép.2: Khung vấn đề nghiên cứu 1.2 Tổng quan tài liệu 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Vấn đề BĐKH đã được quan tâm từ rất sớm, khi mà các nhà khoa học bắt đầu nhận thấy những thay đổi của các yếu tố khí hậu. Năm 1824, nhà vật lý học người Pháp, Joseph Fourier đã miêu tả hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Ông viết: “Nhiệt độ của Trái Đất có thể tăng lên do sự thay đổi của các thành phần trong bầu không khí bởi sức nóng, trong quá trình chuyển hóa nhiệt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng, khí quyển hấp thụ nhiệt năng Mặt Trời nhiều hơn là phản xạ nó trở lại không gian vũ trụ".
Đến năm 1861, nhà vật lý học người Ai-len, John Tyndall, cho rằng hơi nước và một số loại khí là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng hiệu ứng nhà kính. “Hơi nước như một tấm chăn cần thiết cho sự sống của cây cỏ trên Trái Đất hơn là cho con người”. Hơn một thế kỉ sau, để tưởng nhớ tới Tyndall, tại Anh, người ta đã dùng tên của ông để đặt cho một tổ chức nghiên cứu khí hậu. Vào năm 1896, nhà hóa học người Thụy Điển, Svante Arrhenius đã đưa ra kết luận rằng việc đốt than trong công nghiệp sẽ đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính.