Chương I TỐNG QUAN TÀI LIỆU I. KHÁI QUÁT VÈ BỆNH NGUYÊN [9], [39]: 1. Đặc điểm của Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV): Năm 1981 bệnh nhân AIDS đầu tiên được mô tả ở California. Năm 1986 Hội nghị định danh Quốc tế mới đặt tên cho virus này là virus HIV.
HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80 - 120 nm (nanomet). Genom là ARN một sợi và có Enzym sao chép ngược (RT: Reverse Transcriptase). HIV 1 và HIV 2 gây bệnh ở người, thuộc nhóm Lentivirus có thời gian ủ bệnh dài và tiến triển tương đối chậm. Hình dạng virus HIV [39] 1.
Cấu trúc của virus HIV: * Lớp vỏ ngoài (vỏ peplon): màng lipid kép. * Vỏ trong (vỏ capsid): gồm 2 lớp protein. Cenomlc RNA Nucleoid Hình 2. Câu trúc phân tử cùa HIV[8] 5 * Lõi: gồm * Hai phân tử ARN đơn, đó là bộ gen di truyền của HIV (genom) * RT: là enzym ARN - dependent - ADN polymerase.
Sự xâm nhập vào tế bào và nhân lên của HIV [9], [38]: * Sự hấp phụ lên mặt tế bào: HIV bám vào bề mặt tế bào cảm thụ. * Sự xâm nhập vào tế bào: giai đoạn này còn gọi là " cắm neo và hòa màng". * Sự nhân lên trong tế bào: Hình 3 - Các giai đoạn nhân lên của virus HIV 1. HIV xâm nhập vào tế bào đích.
HIV dùng một men sao chép ngược để chuyển RNA thành DNA. HIV DNA vào trong nhân tế bào đích và tích hợp vào DNA của tế bào HIV DNA, sau đó sẽ ra lệnh sao chép lại virus. Các thành phần cùa virus mới ghép lại với nhau, tự giải phóng và đi vào tế bào đích khác 1. Các tế bào HIV có thể xâm nhập và các hiệu quả [39]: * Các tế bào HIV có thể xâm nhập: Tế bào máu và bạch huyết, các tế bào ở não, dạ dày, ruột, da, một số tế bào khác.
* Sự lây truyền của HIV:Các tế bào monocyt và lyphocyt đã làm lây truyền HIV trong cơ thể. * Sự tồn tại của HIV ở các dịch của cơ thể: * Trong máu: HIV có trong huyết thanh và lymho T. số lượng HIV rất thay đổi giữa các bệnh nhân và các giai đoạn bệnh. * Ngoài máu, HIV có thể phân lập ở tinh dịch, niêm mạc âm đạo và cổ tử cung, sữa, nước bọt, nước mắt, nước tiểu, nước não tủy.
Tiến triển tự nhiên và phân loại lâm sàng [6], {7], [9]: - Phân loại giai đoạn lâm sàng HIV/AIDS của WHO cho ngưòi lớn và vị thành niên: Lâm sàng giai đoạn I: - Không có triệu chứng - Bệnh lý hạch lympho toàn thân dai dẳng - Hoạt động mức độ 1: Không có triệu chứng, hoạt động bình thường Lâm sàng giai đoạn II: - Sụt cân dưới 10% trọng lượng cơ thể - Biểu hiện nhẹ tại da và niêm mạc (viêm tiết bã nhờn, nấm họng, loét miệng tái diễn, viêm góc miệng - Zona trong vòng 5 năm gần đây - Nhiễm trùng đường hô hấp trên tái phát (viêm xoang do vi khuẩn) - Và/hoặc Hoạt động mức độ 2: Có biểu hiện triệu chứng nhưng vẫn hoạt động bình thường Lâm sàng giai đoạn III: - Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể - Tiêu chảy mạn tính không rõ nguyên nhân trên 1 tháng - Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân trên 1 tháng - Nhiễm nấm Candida ở miệng - Bạch sản dạng lông ở miệng - Lao phổi trong vòng 1 năm gần đây - Nhiễm vi khuẩn nặng (viêm phổi, viêm cơ mủ) - Và/hoặc Hoạt động mức độ 3: Nằm liệt giường dưới 50% số ngày trong tháng trước đó Lâm sàng giai đoạn IV: - Hội chứng suy mòn do HIV (sụt > 10% trọng lượng cơ thể, cộng với tiêu chảy mạn tính không rõ căn nguyên > 1 tháng, hoặc mệt mỏi, sốt kéo dài không rõ căn nguyên > 1 tháng). - Viêm phổi do Pneumocystis carinii - Bệnh do Toxoplasma ở não, viêm não chất trắng đa ổ tiến triển. - Bệnh do Cryptosporidia có tiêu chảy > 1 tháng - Nhiễm nấm Cryptococcus ngoài phổi, nấm Candida thực quản, khí quản, phế quản hoặc phổi. - Bệnh do Cytomegalovirus ở cơ quan khác ngoài gan, lách, hoặc hạch - Nhiễm virus Herpes simplex da và niêm mạc > 1 tháng hoặc ở nội tạng 7 - Bệnh nấm Histoplasma, Penicillium.
- Nhiễm các Mycobacteria không phải lao lan tỏa toàn thân - Nhiễm khuẩn huyết Salmonella không phải thương hàn - Lao ngoài phổi, u lympho, Sarcoma Kaposi - Bệnh lý não do HIV - Và/hoặc Hoạt động mức độ 4: Nằm liệt giường trên 50% số ngày trong tháng trước đó. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH DỊCH HIV/AIDS: 2. Thế giới [39]: Tháng 6 năm 1981, Trung tâm phòng chống bệnh tật CDC - Atlanta của Mỹ đã xác định những bệnh nhân mắc “Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải” đầu tiên trên thế giới dựa vào phát hiện mô tả về 5 nam thanh niên đồng tính luyến ái bị viêm phổi nặng do Pneumocystis Carinii ở Los Angeles (Mỹ) Từ năm 1982, nhiều nơi lần lượt công bố căn bệnh tương tự thấy cả trên bệnh nhân ưa chảy máu, bệnh nhân phải truyền máu nhiều lần, những người nghiện chích ma túy, những người mẹ và những đứa con do họ đẻ ra. Năm 1986, Hội nghị định danh Quốc tế đã thống nhất tên gọi cho virus này là HIV - 1 (Human Immunodeficiency Virus: virus gây suy giảm miễn dịch ở người), gây bệnh ở hầu hết các châu lục.
Cùng năm đó HIV - 2 phân lập được ở Tây Phi, có cùng phương thức lây truyền nhưng thời gian ủ bệnh dài hơn HIV - 1. Bắt đầu vào những năm 70 - 80 của thế kỷ này, dịch xảy ra chủ yếu tại các nước công nghiệp phát triển ở Bắc Mỹ, úc và Tây Âu, tại các thành phố lớn, ở những người đồng tính luyến ái và nghiện chính ma túy. Từ đó dịch lan tràn khắp các nước trên châu lục gây tác hại to lớn tại các nước ở Đông Phi, Trung Phi, vùng Caribe với số lượng nhiễm HIV rất cao [39]. Tính đến tháng 12 năm 2006 [44]: • Số người sống với HIV năm 2006: Tổng sổ 39,5 triệu (34,1-47,1 triệu) Người lớn 37,2 triệu (32,1-44,5 triệu) Phụ nữ 17,7 triệu (15,1-20,9 triệu) Trẻ em dưới 15 tuổi 2,3 triệu (1,7-3,5 triệu) 8 • Số ca mới nhiễm HIV trong năm 2006: Tổng sổ 4,3 triệu (3,6-6,6 triệu) Người lớn 3,8 triệu (3,2-5,7 triệu) Tre em dưới 15 tuổi 530 000 (410 000-660 000) • Sổ tử vong do AIDS trong năm 2006: Tổng sổ 2,9 triệu (2,5-3,5 triệu) Người lớn 2,6 triệu (2,2-3,0 triệu) Tre em dưới 15 tuổi 380 000 (290 000-500 000) • Cụ thể ở từng châu lục: Bảngl.
ước tính so lượng người nhiễm HIV vào năm 2006 [44]: Châu lục lóc tính số người trưóng Ưó-C tính số người Ưóc tính số ngưòi thành và trẻ cm đang trưởng thành và trẻ trương thành và trẻ em sống vói HIV vào năm em mỏi nhiễm HIV tử vong liên quan đến 2006 vào năm 2006 AIDS năm 2006 Cận Sahara Châu 24,7 triệu (21,8-27,7 2,8 triệu (2,4-3,2 2,1 triệu (1,8-2,4 triệu) Phi triệu) triệu) Châu Mỹ La- 1,7 triệu (1,3-2,5 triệu) 140.000) Khu vực Ca- ri- 250.000) Bẳc Mỹ 1,4 triệu (880.000) Tây Âu và Trung 740.000) Châu Đại dương 81.000) Đông Ảu và 1,7 triệu (1,2-2,6 triệu) 270.000) Nam và Đông 7,8 triệu (5,2-12,0 triệu) 860.000) Tong cộng 39,5 (34,1-47,1 triệu) 4,3 (3,6-6,6) triệu 2,9 (2,5-3,5) triệu ■ 9 Khu vực Cận Sahara Châu Phi tiếp tục phải gánh chịu những hậu quả nặng nề hơn của dịch AIDS toàn cầu. Hai phần ba (63%) tổng số người lớn và trẻ em đang sống với HIV trên toàn cầu là những người sống ở Cận Sahara Châu Phi mà tâm điểm dịch là miền Nam Châu Phi. Một phần ba (32%) số người đang sống với HIV trên toàn cầu là cư dân của miền Nam Châu Phi và 34% số tử vong do AIDS trên toàn càu trong năm 2006 nằm ở khu vực này. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV quốc gia của nhiều nước ở Cận Sahara Châu Phi đang đi xuống nhưng những chiều hướng này chưa đủ lớn và đủ mạnh để làm thay đổi tác động toàn cảnh của đại dịch ở khu vực này.
Gần ba phần tư số người lớn và trẻ em tử vong do AIDS trong năm 2006 là ở Cận Sahara Châu Phi [44]. Châu Á, các nước Đông Nam Á [39], [44]: Ở Châu Á, dịch AIDS đến muộn bắt đầu từ cuối những năm 80 nhưng phát triển rất nhanh. Tính đến tháng 4/1992, số người nhiễm HIV là 1. Nhưng chỉ đến 01/7/1995, số người nhiễm HIV đã là 3.
Châu Á, các nước Đông Nam Á có tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất. Ở các nước này sự kết hợp của tình dục với mại dâm, tình dục đồng giới nam cùng với việc tiêm chích ma túy không an toàn là nhũng yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với nhiễm HIV. Dịch HIV ở trong nhóm nam giới có quan hệ tình dục với nam giới đã trở nên rõ rệt ở các nước Cam-pu-chia, Trung Quốc, Án Độ, Nepal, Pakistan, Thái Lan và Việt Nam. Tại rất ít quốc gia trong số các nước này đưa ra chương trình AIDS quốc gia nhằm ứng phó phù hợp đối với vai trò của tình dục đồng giới nam trong tiến triển của dịch.
Các vụ dịch HIV đã được phát hiện ở Afghanistan và Pakistan, đặc biệt là trong nhóm những người tiêm chích ma túy. Tỷ lệ sử dụng chung dụng cụ tiêm chích không an toàn cao và các yếu tố nguy cơ khác là mảnh đất mầu mỡ để dịch HIV lan rộng ở hai nước này. Dịch HIV ở Án Độ được mô tả một cách chính xác nhất là tập hợp của nhiều vụ dịch khác nhau, với sự khác biệt rất lớn về tỷ lệ hiện nhiễm, các yếu tố nguy cơ và hình thái lây truyền. Nhiều nơi ở khu vực phía Nam, dịch đã bắt đầu ở trạng thái 10 ổn định hoặc đi xuống, trong khi ở những nơi khác dịch lại đang gia tăng (đặc biệt là ở khu vực Đông Bắc).
Ở Trung Quốc, mặc dù các cơ quan chức năng đã có những nỗ lực lớn trong việc tăng cường ứng phó với AIDS nhưng HIV vẫn đang lan dần từ các quần thể có nguy cơ cao nhất (đặc biệt là người tiêm chích ma túy, người bán dâm và người mua dâm) sang cộng đồng, số phụ nữ nhiễm HIV đang ngày càng tăng lên. Đen cuối năm 2005, ước tính có 8,6 triệu [6,0 triệu-13,0 triệu] người đang sống với HIV ở Châu Á, bao gồm 960 000 [640 000-2,5 triệu] người mới nhiễm HIV trong năm vừa qua. Khoảng 630 000 [430 000-900 000] người tử vong do các nguyên nhân liên quan đến AIDS trong năm 2006.