Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Đăk Nông 1. Trên thế giới Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Mỹ năm 1981, cho đến nay loài người trên thế giới đã trải qua hơn 35 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp. Theo UNAIDS, ước tính đến năm 2012 có 35,3 (32,2-38,8) triệu người trên thế giới đang sống với HIV.
Sự gia tăng các năm trước do nhiều người đang nhận được cứu sống điều trị kháng vi rút. Đồng thời số lượng tử vong do AIDS cũng đang giảm với 1,6 (1,4-1,9) triệu người chết vì AIDS trong năm 2012, giảm 2,3 (2,1-2,6) triệu so với năm 2005 [28]. Tại Việt Nam Kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990, theo báo cáo của Bộ Y tế, đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong. Trong số những người được báo cáo xét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trong năm 2015, nữ chiếm 34,1%, nam chiếm 65,9%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máu chiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4% [8].
Tính đến cuối năm 2014, 100% số tỉnh thành phố, 98,9% số quận huyện và 80,3% số xã, phường đã có người nhiễm HIV. Một số xã, phường có số người nhiễm HIV cao gấp 10 lần số ca nhiễm trung bình của toàn quốc và tập trung chủ yếu ở các vùng xa và dân tộc thiểu số. Dịch HIV ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao là người tiêm chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm [7]. Nhìn chung, số người nhiễm HIV phát hiện mới tiếp tục có xu hướng giảm, nhưng lũy tích số người nhiễm HIV còn sống tiếp tục gia tăng.
Dịch HIV/AIDS đã 5 xảy ra ở tất cả tỉnh, thành phố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường. Một số khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có số người nhiễm HIV cao. Một số hành vi nguy cơ liên quan đến HIV/AIDS đang có những thay đổi theo hướng phức tạp và khó kiểm soát, can thiệp. Lây truyền HIV qua quan hệ tình dục đang có xu hướng gia tăng, cảnh báo sự lây lan của dịch trong cộng đồng dân cư, bao gồm cả những nhóm người được coi là có hành vi nguy cơ thấp.
Gia tăng sử dụng ma túy tổng hợp trong các nguy cơ cao gồm gái mại dâm và người quan hệ tình dục đồng giới nam dẫn đến tăng nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm này và bạn tình của họ [7]. Khu vực Tây Nguyên Theo báo cáo của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên, tính đến cuối năm 2014 khu vực Tây Nguyên (Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Nông) có 3.946 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 1.798 BN AIDS và 853 trường hợp tử vong do AIDS [25]. Nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu qua đường máu và quan hệ tình dục (QHTD), tuy nhiên qua giám sát phát hiện trong những năm gần đây số nhiễm mới phát hiện nhiễm HIV qua đường tình dục có xu hướng gia tăng. Tại tỉnh Đăk Nông Theo báo cáo của Trung tâm Phòng, chống (PC) HIV/AIDS tỉnh Đăk Nông, tính đến cuối năm 2015, lũy tích có 743 trường hợp nhiễm HIV, trong đó có 262 BN AIDS và 139 trường hợp tử vong.
Toàn tỉnh ghi nhận có 07 huyện, 01 thị xã và 65/71 xã/phường/thị trấn đã phát hiện có người bị nhiễm HIV. Nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu qua đường máu (46%). Nhóm tuổi nhiễm HIV chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 20-49, chiếm tỷ lệ 78,73% [15]. Điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút (ARV) 1.
Khái niệm về điều trị và TTĐT ARV ARV là thuốc kháng vi rút, có tác dụng ức chế sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể. Các phác đồ điều trị ARV bậc 1 dành cho người lớn và trẻ từ 10 tuổi trở lên đang được sử dụng phổ biến hiện nay [22]: TDF + 3TC + EFV; TDF + 3TC + NVP AZT + 3TC + NVP; AZT + 3TC + EFV Điều trị ARV được coi là một phần trong tổng thể các biện pháp chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người có HIV. Vì vậy, bản thân việc điều trị thuốc kháng ARV không thay thế được các biện pháp chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội khác cho người có HIV. Nguyên tắc điều trị: Phối hợp thuốc (Dùng phối hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV); Điều trị sớm (điều trị ngay khi người bệnh đủ tiêu chuẩn nhằm ngăn chặn khả năng nhân lên của HIV, giảm số lượng HIV trong máu và giảm phá hủy tế bào miễn dịch); Điều trị liên tục, suốt đời (người bệnh cần được điều trị ARV suốt đời và theo dõi trong suốt quá trình điều trị); Đảm bảo TTĐT ARV (người bệnh cần thực hiện uống thuốc đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định) [22].
Các thuốc ARV chỉ có tác dụng ức chế sự nhân lên của vi rút HIV chứ không chữa khỏi hoàn toàn bệnh HIV nên người có HIV phải điều trị kéo dài suốt đời và vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng để tránh lây truyền vi rút cho người khác. Yếu tố quan trọng quyết định thành công của điều trị ARV chính là sự TTĐT của chính người có HIV. TTĐT ARV là một người cần thực hiện việc uống thuốc theo đúng 5Đ: Đúng thuốc; Đúng liều; Đúng giờ; Đúng đường và Đúng cách [5]. Ngoài ra, phải thực hiện tái khám đúng hẹn theo yêu cầu của cán bộ y tế[21].
Không TTĐT ARV là một người thực hiện việc uống thuốc không theo đúng 5Đ. Nếu việc TTĐT không tốt sẽ có nguy cơ kháng thuốc. Các thông tin về không tuân thủ điều trị ARV, bao gồm: 7 Bỏ liều: không uống thuốc do quên hay do chủ ý không uống; Dùng sai liều: uống nhiều hơn hoặc ít hơn lượng thuốc được chỉ định; Dùng sai cách: không uống thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ đối với một số thuốc ARV như: nên uống sau bữa ăn, trước khi đi ngủ,. nhằm tránh các tác dụng phụ (nôn, ảo giác,.) và phát huy hiệu quả tốt nhất của thuốc.
Dùng sai giờ: uống thuốc sai giờ quá 01 tiếng đồng hồ so với giờ đã chọn uống thuốc hàng ngày. Tái khám không đúng hẹn: thực hiện việc đến tái khám và nhận thuốc không đúng theo chỉ định của cán bộ y tế. BN HIV đang điều trị ARV được gọi là không TTĐT khi bệnh có mức độ TTĐT dưới mức 95% tổng số liều [5], cụ thể: Nếu dùng ARV theo phác đồ một ngày một lần: quên uống thuốc nhiều hơn 1 lần trong một tháng; Nếu dùng ARV theo phác đồ một ngày hai lần: quên uống thuốc nhiều hơn 3 lần trong một tháng; Nếu dùng ARV theo phác đồ một ngày ba lần: quên uống thuốc nhiều hơn 4 lần một tháng. Hướng dẫn cách xử trí khi quên uống thuốc ARV: khi phát hiện ra quên uống thuốc theo lịch, người bệnh phải uống ngay liều thuốc vừa quên.
Tiếp theo tính thời gian uống liều kế tiếp theo lịch như thường lệ: Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn trên 04 tiếng, uống liều đó vào đúng thời gian như lịch bình thường. Nếu thời gian đến liều uống kế tiếp còn dưới 04 tiếng, KHÔNG ĐƯỢC uống liều kế tiếp như lịch cũ mà phải đợi trên 04 tiếng mới được uống. Nếu quên hơn 02 liều trong 01 tuần, người bệnh phải báo bác sỹ để được hướng dẫn. BN HIV đang điều trị ARV được gọi là mất dấu, bỏ trị đối với BN HIV/AIDS đang uống ARV mà không đến tái khám (không lấy thuốc ARV) liên tục 4 tháng [5]; Điều trị ARV nhằm ngăn chặn tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể; và phục hồi chức năng miễn dịch [21], [22].
Trong quá trình điều trị 8 ARV BN cần tuân thủ theo một số nguyên tắc chính sau đây [21], [22]: Phối hợp thuốc: Dùng phối hợp ít nhất 3 loại thuốc ARV; Điều trị sớm: Điều trị ngay khi người bệnh đủ tiêu chuẩn nhằm ngăn chặn khả năng nhân lên của HIV, giảm số lượng HIV trong máu và giảm phá hủy tế bào miễn dịch; Điều trị liên tục, suốt đời: người bệnh cần được điều trị ARV suốt đời và theo dõi trong suốt quá trình điều trị; Đảm bảo TTĐT ARV: người bệnh cần thực hiện uống thuốc đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định. Ngoài ra, hỗ trợ TTĐT cũng cần đánh giá các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự TTĐT của người bệnh (Nhận thức của người bệnh về sự cần thiết của việc TTĐT ARV, tính chất công việc của người bệnh, khoảng cách đi lại từ nhà đến phòng khám, sự hỗ trợ TTĐT của các thành viên trong gia đình, các thuốc điều trị phối hợp khác: điều trị Methadone, điều trị lao, thuốc điều trị ARV phải uống nhiều hơn 1 lần một ngày. Bên cạnh đó, người bệnh cần tái khám định kỳ theo quy định, đối với người lớn: tái khám hằng tháng trong 6 tháng sau khi điều trị bằng thuốc kháng HIV, sau đó căn cứ vào mức độ đáp ứng điều trị và TTĐT của người bệnh có thể tái khám 6 tháng/lần. Trong quá trình đánh giá tình trạng sức khỏe và xử lý khi tái khám, cần đánh giá giai đoạn lâm sàng, xét nghiệm CD4 định kỳ 6 tháng/lần và xét nghiệm theo dõi điều trị khác.
Phát hiện và xử trí tác dụng phụ của thuốc, đánh giá và hỗ trợ TTĐT. Hỗ trợ TTĐT Đánh giá các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự TTĐT, bao gồm: Nhận thức của người bệnh về sự cần thiết của việc TTĐT ARV Tính chất công việc của người bệnh Khoảng cách đi lại từ nhà đến phòng khám Sự hỗ trợ TTĐT các thành viên trong gia đình Thuốc điều trị ARV phải uống nhiều hơn 1 lần một ngày Các can thiệp hỗ trợ TTĐT Xây dựng và thực hiện kế hoạch hỗ trợ TTĐT cho người bệnh 9 Cung cấp thông tin cơ bản về HIV, các thuốc ARV đang sử dụng, các tác dụng bất lợi có thể có, quy trình theo dõi điều trị ARV và vấn đề TTĐT ARV cho mỗi người bệnh. Thảo luận với người bệnh về cách thức hỗ trợ TTĐT phù hợp. Sử dụng công cụ nhắc uống thuốc như tin nhắn điện thoại, sổ theo dõi [22].
Đánh giá mức độ TTĐT ARV Cho đến nay, có rất nhiều phương pháp đo lường về TTĐT ARV ở BN HIV/AIDS. Tuy nhiên, không có phương pháp nào chuẩn mực trong đánh giá TTĐT.