Chương 1: Giới thiệu tổng quan về chủ đề nghiên cứu, sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ, khảo lược các nghiên cứu liên quan. Chương3: Phương pháp nghiên cứu khung phân tích, khái quát phương pháp nghiên cứu, mô tả bộ dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: mô tả tổng quan về đồng bằng sông Cửu Long, sự phát triển Internet của Việt Nam, mô tả kết quả dữ liệu của hai mô hình nghiên cứu.
Mô hình số 1 kết quả cho thấy thu nhập, khu vực, trình độ, nghề nghiệp có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Internet. Mô hình số 2 cho thấy nghề nghiệp, trình độ, dân tộc và di cư có ảnh hưởng đến chi tiêu cho dịch vụ Internet.Các kiểm định về trung bình chi tiêu cho dịch vụ Internetcủa chủ hộ: chi tiêu trung bình của chủ hộ nam và nữ, thành thị và nông thôn là bằng nhau; chi tiêu của chủ hộ có các nhóm trình độ, các nhóm nghề nghiệp khác có trung vị bằng nhau. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, chương này tóm lược lại kết quả nghiên cứu của đề tài, những kiến nghị về chính sách mang tính gợi mở cho chính quyền địa phương. Chương này còn đưa ra những hạn chế của đề tài và mở hướng cho nghiên cứu tiếp theo.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Có nhiều lý thuyết nghiên cứu sự tham gia vào việc truy cập internet. Nghiên cứu này chủ yếu dựa vào lý thuyết sự lựa chọn của người tiêu dùng và những yếu tố ảnh hưởng khác giải thích vì sao hộ gia đình quyết định sử dụng dịch vụ Internet. Cuối cùng là một số nghiên cứu liên quan được xem xét.Lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng Hành vi người tiêu dùng giải thích những ảnh hưởng quyết định sử dụng dịch vụ internet, phản ứng của người tiêu dùng khi các điều kiện thay đổi. Hành vi của người tiêu dùng rất đơn giản: giả thiết rằng cá nhân lựa chọn “những cái tốt nhất mà họ có thể”.
Chúng ta sẽ xác định rõ cái mà các nhà kinh tế nói là “cái tốt nhất”.Sở thích của người tiêu dùng Chúng ta đặt giả thiết rằng, đứng trước hai giỏ hàng hóa X và Y, người tiêu dùng có thể sắp xếp chúng dựa vào sở thích của mình, có thể thích giỏ X hơn giỏ Y, hoặc là bàng quan giữa hai giỏ. Các giả thiết liên quan đến sở thích của người tiêu dùng Mối quan hệ sở thích có tính hoàn hảo.Điều này đặt giả thiết rằng mọi cặp giỏ hàng hóa đều có thể so sánh.Tức là, đối với mọi giỏ hàng hóa X và mọi giỏ hàng hóa Y, ta có:hoặc giỏ X thích hơn hoặc bằng giỏ Y; hoặc giỏ Y thích hơn hoặc bằng giỏ X, hoặc hai mối quan hệ này đồng thời xảy ra khi người tiêu dùng thờ ơ với hai giỏ. Mối quan hệ sở thích có tính bắc cầu. Nếu người tiêu dùng thích giỏ hàng hóa X hơn hoặc bằng Y và thích Y hơn hoặc bằng Z thì người tiêu dùng sẽ thích hàng hóa X hơn hoặc bằng Z.
Người tiêu dùng thích nhiều hơn ít. Khi người tiêu dùng đối diện với hai giỏ hàng hóa thì thích giỏ hàng hóa nhiều hơn. Người tiêu dùng muốn tối đa hóa hữu dụng trong giới hạn ngân sách của mình.Sự lựa chọn của người tiêu dùng Sự lựa chọn của người tiêu dùng phải khả thi và mang lại mức hữu dụng cao nhất. Giỏ hàng hóa tại điểm tiếp xúc giữa đường ngân sách và đường bàng quan.Sự lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng.
Người tiêu dùng không có sở thích giống nhau. Đứng trước một hàng hóa hay dịch vụ, người này có thể thích nhiều hơn người kia hoặc sẽ không thích. Mức độ hài lòng một hàng hóa hay dịch vụ của người tiêu dùng là độ thõa dụng. Đây là thước đo chủ quan tùy thuộc vào từng người, dịch vụ Internet không phải là sản phẩm thiết yếu.
Vì vậy, việc chi tiêu dịch vụ Internet của hộ gia đình nó phụ thuộc rất lớn vào sở thích của mỗi thành viên trong hộ. Người thích sử dụng dịch vụ truy cập nhiều do hữu dụng lớn, thế nhưng hành vi lựa chọn đó còn chịu ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài là thu nhập và chúng tạo ra đường ngân sách đối với người tiêu dùng. Các tác động đến lựa chọn của người tiêu dùng Người tiêu dùng lựa chọn giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan cao nhất trong giới hạn ngân sách của mình. Khi thu nhập, giá hàng hóa và sở thích thay đổi thì sự lựa chọn rổ hàng hóa sẽ thay đổi.
9 Khi thu nhập tăng: đường ngân sách sẽ dịch chuyển sang phải, điểm tối ưu E sang E.Điểm lựa chọn của người tiêu dùng khi thu nhập tăng. Khi giá của hàng hóa thay đổi: Giả sử rằng x và y là hàng hóa thông thường, khi giá hàng hóa x giảm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, lượng tiêu thụ sản phẩm x tăng là kết quả tổng hợp của hai tác động là tác động thay thế và tác động thu nhập. Điểm lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng khi thay đổi giá.3:x,y là hai hàng hóa thông thường,tác động thay thế và tác động thu nhập cùng chiều, khi giá sản phẩm x giảm giá tác động thay thế làm thay đổi điểm hữu dụng tối ưu từ điểm E1 sang E2, giá x giảm làm thu nhập thực tế tăng đường ngân sách dịch sang phải, tác động thu nhập làm dịch chuyển điểm tối ưu từ E2 sang E3, mức hữu dụng tăng từ U1 sang mức U2. Khi sở thích thay đổi: Sở thích người tiêu dùng thay đổi theo thời gian, khi đường ngân sách không đổi sở thích thay đổi điểm tối ưu sẽ thay đổi.4: Điểm tối ưu của người tiêu dùng khi sở thích thay đổi.Hàng hóa x được ưa thích hơn, đường ngân sách không đổi điểm tối ưu từ E1 dịch chuyển sang điểm E2.
Tóm lại, hành vi sử dụng dịch vụ Internet của hộ gia đình phụ thuôc vào sở thích,thu nhập và sản phẩm hàng hóa khác.Hộ gia đình sẽ sử dụng Internet nếu nó mang lại mức hữu dụng lớn trong giới hạn ngân sách. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Internet của hộ gia đình. Dựa trên những lý thuyết và nghiên cứu đã thực hiện, những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi truy cập Internet của người dân phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội, chất lượng thông tin tìm thấy, lợi ích mang lại,chất lượng dịch vụ và điều kiện thực hiện.1 Đặc điểm về kinh tế xã hội Người dân quyết định tham gia truy cập Internet hay không có liên quan đến đặc điểm kinh tế xã hội (thu nhập, độ tuổi,trình độ, nghề nghiệp,giới tính,quy mô hộ v.Đây là những yếu tố có khả năng ảnh hưởng lớn nhất, người có thu nhập càng cao thì khả năng tiếp cận Internet càng nhiều.TheoTukiainen(2004) thu nhập có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tiếp cận công nghệ thông tin.Choudrie và Dwivedi (2006) thu nhâp có ảnh hưởng đến việc sử dụng mạng băng thông rộng. Người càng trẻ thì thích tiếp cận Internet hơn người lớn tuổi; Người có trình độ và nghề nghiệp thì dễ tiếp cận Internet hơn người không có trình độ, nghề nghiệp(Net Index, 2009).
Kennedy,Wellman và Klement(2003) cho rằng có sự khác biệt giữa nam và nữ trong việc sử dụng Internet.Tuy nhiên,Pew Internet project (2005) chứng minh rằng giới tính không có tác động đến khả năng tiếp cận công nghệ thông tin.Người ở thành thị tỷ lệ hộ dân sử dụng Internet nhiều hơn ở nông thôn. Harrington (2003) cho rằng có sự khác biệt về khả năng tiếp cận công nghệ thông tin giữa các thành phố.Teng Ku (2005) có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn trong việc tiếp cận công nghệ thông tin.Các dân tộc khác nhau khả năng tiếp cận thông tin khác nhau. Hoffman và Novak (1998) khả năng tiếp cận công nghệ thông tin khác nhau do sự khác nhau về dân tộc và văn hóa.Chất lượng thông tin Thông tin càng chính xác thì sẽ tạo niềm tin và mức độ truy cập sẽ càng lớn. Điều này phải cần có khả năng quản lý mạng phải tốt, loại bỏ những tin không đúng sự thật, tạo niềm tin cho công chúng.
Lợi ích mang lại: Lợi ích mang lại được thể hiện bằng sự thỏa mãn của khách hàng. Mức độ thỏa mãn được đánh giá bằng sự so sánh giữa kết quả nhận được và sự mong đợi mang tính cảm xúc 2. Chất lượng dịch vụ: Thể hiện phương tiện hữu hình là phương tiện vật chất kỹ thuật nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho khách hàng; mức độ đồng cảm thể hiện sự quan tâm chăm sóc khách hàng; năng lực phục vụ thể hiện trình độ chuyên môn,phong cách phục vụ và tính chuyên nghiệp; mức độ đáp ứng phục vụ mọi lúc mọi nơi; mức độ tin cậy thực hiện đúng cam kết, tạo sự tin tưởng cho khách hàng. Điều kiện thực hiện Điều kiện thực hiện là các trang thiết bị đáp ứng nhu cầu cho người dân,số lượng nhiều, chất lượng tốt, truy cập nhanh không tốn nhiều thời gian trong việc truyền tải thông tin.Đặc biệt ở nông thôn, việc truy cập còn rất nhiều khó khăn, số lượng máy tính rất ít, phải đi rất xa mới có điểm phục vụ.Cantamessa và Paolucci (2005) kết luận cơ sở hạ tầng tốt sẽ tăng khả năng tiếp cận công nghệ thông tin.
Khả năng sử dụng máy vi tính của người dân còn hạn chế, tạo tâm lý e ngại khi tiếp cận thông tin trên mạng. Trình độ vi tính của người hướng dẫn ở những điểm Internet còn rất han chế. Cho nên, việc hướng dẫn tra cứu tài liệu thông tin không được thuận lợi. Hargittai (2002) cho rằng để tiếp cận công nghệ thông tin một cách dễ dàng cần được huấn luyện và hỗ trợ.Lược khảo nghiên cứu liên quan Theo một số nghiên cứu trước, Lê Trung Nam (2010) chỉ ra rằng tiếp cận công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng phụ thuộc rất nhiều về thu nhập,nhân khẩu học,địa lý (thành thị, nông thôn) và dân tộc.
Chủ hộ nữ tỷ lệ sử dụng Internet nhiều hơn chủ hộ nam. Tuổi của chủ hộ càng cao thì sử dụng dịch vụ Internet nhiều(tuổi 50-60 chiếm 7,67%). Tỷ lệ sử dụng Internet của thành thị cao hơn nông thôn. 13 Nghiên cứu của Net Index (2009)cho thấy tỷ lệ sử dụng Internet của nam nữ bằng nhau, tuổi sử dụng Internet nhiều nhất là học sinh,sinh viên.
Theo Trần Quốc Hùng (2014), sử dụng Internet để giao dịch trực tuyến, yếu tố quan trọng là sự tin tưởng vào cơ sở hạ tầng,ảnh hưởng của xã hội và các yếu tố trang web.