Đặt vấn đề Một trong những tính năng độc đáo của thảm thực vật trên cạn là hấp thu các nguồn dinh dưỡng từ các môi trường đất, nước và không khí hoàn toàn khác nhau (Chapin et al. Khi các yếu tố môi trường này thay đổi cũng làm thay đổi thành phần thực vật của khu vực đó (Tavili and Jafari, 2009). Vì vậy, tại các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự phân bố và đa dạng về thành phần loài thực vật khác nhau. Austin et al.
(1984) cho rằng có nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng của thực vật. Các yếu tố này có thể sắp xếp thành ba nhóm chính, đó là nhóm không ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thực vật, nhóm có ảnh hưởng trực tiếp nhưng không phải là nguồn dinh dưỡng cần thiết cho sự cạnh tranh và nhóm dinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của chúng. Trong điều kiện sinh thái của từng khu vực, tính chất môi trường đất hoạt động như là một bộ lọc ngăn cản sự hiện diện của các loài thiếu các đặc điểm sinh lý cần thiết để tồn tại (Pausas and Austin, 2001). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính chất vật lý và hóa học của đất đã ảnh hưởng sự phân bố và đa dạng của thực vật theo từng vùng sinh thái khác nhau (Tilman, 1982; Zuo et al., 2009; Ritu et al., 2010; Shabani et al.
Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển như sa cấu, pH và nguồn dinh dưỡng là các yếu tố quyết định cho sự thay đổi của thảm thực vật theo không gian ở trong cùng một vùng khí hậu đặc biệt (Tuomisto et al., 2003; Fayolle et al., 2012; Dado and Jiwen, 2014). Vì vậy, để bảo tồn tài nguyên thực vật thì sự nghiên cứu về phân bố và đa dạng theo đặc điểm môi trường đất cần phải được xem xét trong công tác quy hoạch bảo tồn. Tỉnh An Giang có vị trí đặc biệt trong tổng thể toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cả về góc độ tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. Về tự nhiên, đây là vùng có địa hình đặc trưng gồm đồi núi và đồng bằng với nhiều hệ sinh thái khác nhau.
Bên cạnh hệ sinh thái nông nghiệp, An Giang còn có hệ sinh thái rừng trên núi và hệ sinh thái rừng đồng bằng với thành phần loài thực vật khác nhau (Nguyễn Đức Thắng, 2003) và đã tạo nên nhiều cảnh quan vô cùng độc đáo. Đặc biệt, vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang là một trong những khu vực có nhiều loài gỗ giá trị và nhiều loài dược liệu quý (Võ Văn Chi, 1991; Nguyễn Đức Thắng, 2003). Thêm vào đó, An Giang còn là một trong những tỉnh có sự đa dạng về cây nông nghiệp (Cục thống kê An Giang, 2014). Ngoài các loài cây cho năng suất và chất lượng cao, An Giang còn lưu giữ nhiều giống loài 1 luan an bản địa có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái khá đặc thù của từng vùng như đất cát vùng đồi núi (Nguyễn Văn Minh và ctv., 2008) và đất phèn vùng ngập lụt (Nguyễn Văn Kiền, 2013).
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích rừng mất đi nhiều hơn diện tích rừng được phục hồi và điều này đồng nghĩa với sự mất đi các loài dược liệu và thực vật quý (Nguyễn Đức Thắng, 2003). Tính đến nay, ở Việt Nam có gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong đó có trên 300 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp toàn cầu và 49 loài bị đe dọa ở cấp toàn cầu ở Việt Nam thuộc loại “cực kỳ nguy cấp” (Sách đỏ Việt Nam, 2007; trích bởi Lê Thanh Phong và Châu Hoàng Hải, 2014). Bên cạnh đó, việc khai thác quá mức và sự thay đổi nhanh chóng các mô hình sử dụng đất đã làm suy giảm đa dạng thực vật và đe dọa các loài quý hiếm. Theo Magnus and Albert (2003), sau thời kỳ Đổi Mới, ở ĐBSCL, diện tích sản xuất nông nghiệp chiếm 83%, trong đó thâm canh nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản là hai nguyên nhân chính làm thu hẹp các khu đất ngập nước giàu đa dạng sinh học.
Trước nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học ngày càng gia tăng, năm 2008, Luật Đa dạng sinh học đã ra đời và là nền tảng cho chiến lược quốc gia về xây dựng quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học nhằm sử dụng bền vững các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên sinh vật, phục vụ cho phát triển kinh tế và xã hội tại địa phương. Dựa vào sự khác biệt về yếu tố địa mạo, thổ nhưỡng và độ sâu ngập lũ, tỉnh An Giang được phân thành ba vùng sinh thái là vùng đồi núi, vùng đồng lụt hở và vùng đồng lụt ven sông (Nguyen Huu Chiem, 1993; Nguyễn Hiếu Trung và ctv. Các vùng sinh thái này có đặc điểm môi trường khác nhau sẽ hình thành sự đa dạng và phân bố thực vật cũng khác nhau. Mặc dù, sự đa dạng tài nguyên thực vật tại tỉnh An Giang đã được quan tâm và đẩy mạnh nghiên cứu trong những năm trước đây (Võ Văn Chi, 1991; Nguyễn Đức Thắng, 2003), nhưng các nghiên cứu này chỉ chú trọng vào đa dạng thành phần loài, chưa mô tả sự đa dạng và phân bố thực vật bậc cao có mạch theo các vùng sinh thái.
Đồng thời, các yếu tố sinh thái quyết định đến sự đa dạng và phân bố của thảm thực vật ở từng vùng sinh thái tại tỉnh An Giang cũng chưa được đề cập trong các kết quả nghiên cứu này. Vì vậy, đánh giá được sự phân bố và đa dạng thực vật theo tính chất môi trường đất trên các vùng sinh thái khác nhau tại tỉnh An Giang làm cơ sở khoa học cho quy hoạch và sử dụng hợp lý tài nguyên thực vật là cần thiết. Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn nói trên, luận án “Nghiên cứu sự phân bố và đa dạng thực vật bậc cao trên các vùng sinh thái khác nhau tại tỉnh An Giang” đã được thực hiện. Mục tiêu tổng quát Xác định sự phân bố và đa dạng thực vật bậc cao có mạch trên các vùng sinh thái khác nhau để làm cơ sở cho việc khai thác bền vững và bảo tồn đa dạng thực vật của tỉnh An Giang.
Mục tiêu cụ thể - Xác định các tính chất lý hóa môi trường đất đặc trưng ở ba vùng sinh thái của tỉnh An Giang theo độ sâu. - Xác định hiện trạng và yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng thực vật bậc cao có mạch theo tính chất môi trường đất ở vùng đồi núi thấp của tỉnh An Giang. - Xác định hiện trạng và yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng thực vật bậc cao có mạch theo tính chất môi trường đất ở vùng đồng lụt hở của tỉnh An Giang. - Xác định hiện trạng và yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố và đa dạng thực vật bậc cao có mạch theo tính chất môi trường đất ở vùng đồng lụt ven sông của tỉnh An Giang.
Nội dung nghiên cứu + Khảo sát và đánh giá tính chất môi trường đất tại các khu vực sinh thái đặc trưng qua các chỉ tiêu lý hóa đất. + Điều tra, đánh giá hiện trạng đa dạng thực vật theo các khu vực sinh thái đặc trưng. + Nghiên cứu mối quan hệ giữa tính chất môi trường đất với sự đa dạng thực vật. + Xây dựng các bản đồ hiện trạng về sự phân bố các loài thực vật ưu thế đại diện cho từng vùng sinh thái.
+ Đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên thực vật cho tỉnh An Giang. Ý nghĩa của luận án 1.1 Ý nghĩa khoa học Luận án cung cấp cở sở khoa học về sự phân bố và đa dạng của thực vật bậc cao trên môi trường đất tại ba vùng sinh thái tiêu biểu của tỉnh An Giang nhằm đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật phục vụ cho công tác bảo tồn và khai thác bền vững của tỉnh An Giang.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin cho các ngành lâm nghiệp, môi trường, các cơ quan quản lý nhà nước và người dân về hiện trạng phân bố các 3 luan an loài thực vật thân gỗ và thân thảo tại tỉnh An Giang để có các biện pháp bảo vệ và khai thác hợp lý. Những luận điểm mới của luận án + Kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm 56 loài, thuộc 30 họ của ba ngành Lycopodiophyta, Polypodiophyta và Magnoliophyta cho khu hệ thực vật của tỉnh An Giang. + Luận án đã xác định số loài hoang dại và loài cây trồng cho ba vùng sinh thái ở tỉnh An Giang.
Đồng thời cung cấp dẫn liệu về sự phân bố của các loài thực vật bậc cao có mạch theo tính chất đất và đã xác định được các loài quý hiếm, loài đặc hữu, loài ưu thế cho từng vùng sinh thái. + Bổ sung một số đặc điểm lý hóa học cho từng loại đất ở ba vùng sinh thái khác nhau ở tỉnh An Giang và cung cấp dẫn liệu về đặc điểm môi trường đất theo các đai độ cao ở vùng đồi núi. + Nghiên cứu đã mô tả và phân tích sự phân bố các loài thực vật ưu thế, đồng thời so sánh và đánh giá hiện trạng đa dạng qua các chỉ số đa dạng theo tính chất môi trường đất ở từng vùng sinh thái. Từ đó đã xác định được yếu tố đất và con người đã ảnh hưởng đến các chỉ số đa dạng và các loài ưu thế.
+ Xây dựng được bản đồ phân bố thực vật ưu thế để phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên thực vật và bảo tồn đa dạng sinh học. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu + Thành phần loài thực vật bậc cao có mạch. + Các thông số môi trường đất như sa cấu, dung trọng, tỷ trọng, pHKCl, EC, CHC, nitơ tổng, nitơ hữu dụng, phosphor tổng, phosphor hữu dụng, kali tổng, kali hữu dụng, Ca2+ và Mg2+.
Phạm vi nghiên cứu + Ba vùng sinh thái là: Vùng đồi núi thấp: khu vực Bảy Núi, huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Vùng đồng lụt hở: huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Vùng đồng lụt ven sông: huyện Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. + Nghiên cứu tiến hành khảo sát sự phân bố đa dạng thực vật bậc cao có mạch (trừ Rêu) tại các ô tiêu chuẩn trên các tuyến khảo sát ở ba vùng sinh thái, thuộc tỉnh An Giang.