Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày 14/6/2005: Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu. Các loại cơ sở lưu trú du lịch gồm: khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, các cơ sở lưu trú du lịch khác. Khu nghỉ dưỡng (Resort) Khái niệm Khu nghỉ dưỡng (Resort) bắt nguồn là nơi chữa bệnh, người cần dưỡng bệnh ở những nước phát triển và dần dần trở thành nơi ở cho khách hàng của khách sạn, du khách du lịch. Khu nghỉ dưỡng (Resort) là khái niệm về các loại hình khách sạn xây dựng độc lập theo khối hoặc quần thể bao gồm biệt thự, căn hộ du lịch, băng-ga-lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp phục vụ nhu cầu tham quan, 10 nghỉ dưỡng của du khách.
Theo thời gian, quan niệm về Resort đã được mở rộng cùng với trình độ nhận thức và nhu cầu của du khách. Nó không còn là nơi ở để dưỡng bệnh mà là một cơ sở lưu trú du lịch thực hiện các nhiệm vụ: (1) Cung cấp nơi ở hiện đại, với các thiết bị cao cấp, không khí trong lành để tạo sự thoải mái. (2) Cung cấp sản phẩm ăn uống đa dạng, mang đậm yếu tố bản địa để khách vừa nghỉ dưỡng, vừa khám phá ẩm thực địa phương. (3) Cung cấp đa dạng dịch vụ vui chơi giải trí độc đáo đế mang lại sự thư thái.
(4) Cung cấp hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe phong phú để làm đẹp và phục hồi sức khỏe. (5) Cung cấp một phong cách phục vụ chuyên nghiệp phù hợp với từng cá tính khách hàng, đế họ luôn có cảm giác được chăm sóc ân cần, tỉ mi và được coi trọng 2. Phân loại Khu nghỉ dưỡng (Resort) Phân loại theo vị trí: - Khu nghỉ dưỡng gần nơi ở thường xuyên của khách - Khu nghỉ dưỡng ở vùng xa - Khu nghỉ dưỡng cạnh biển - Khu nghỉ dưỡng gần sông, hồ - Khu nghỉ dưỡng ở miền núi - Khu nghỉ dưỡng trên sa mạc Phân loại theo mức độ đầu tư: - Khu nghỉ dưỡng ‘’gia đình’’ - Khu nghỉ dưỡng có quy mô trung bình - Khu nghỉ dưỡng có quy mô lớn - Khu nghỉ dưỡng mang tính phức hợp Phân loại theo tiêu chí môi trường 11 - Khu nghỉ dưỡng đã ứng dụng ‘’hệ thống quản lý môi trường’’ - Khu nghỉ dưỡng chưa ứng dụng ‘’hệ thống quản lý môi trường’’ Phản loại theo đối tượng phục vụ: - Khu nghỉ dưỡng truyền thống - Khu nghỉ dưỡng có casino - Khu nghỉ dưỡng nằm trong quần thể di sản văn hóa - Khu nghỉ dưỡng bệnh viện - Khu nghỉ dưỡng ẩn lánh - Khu nghỉ dưỡng ẩm thực Phân loại theo thời gian hoạt động - Khu nghỉ dưỡng mùa hè - Khu nghỉ dưỡng mùa đông - Khu nghỉ dưỡng hoạt động toàn thời gian - Khu nghỉ dưỡng chỉ hoạt động vào cuối tuần và ngày lễ lớn 2. Đặc điếm của Khu nghỉ dưỡng Đặc điêm về vị trí: Yếu tố nghỉ dưỡng là mục tiêu chính, nên không khí trong lành và yên tĩnh là sự lựa chọn hàng đầu của khách.
Do vậy, Khu nghỉ dưỡng thường được xây dựng ở những nơi xa khu dân cư, hòa mình với thiên nhiên, có không gian và cảnh quan rộng, thoáng. Đặc điểm về kiến trúc: Khu nghỉ dưỡng thường được xây dựng trên diện tích mặt bằng khá rộng nhưng chỉ xây 40% đến 50% diện tích mặt bằng. Phần còn lại dành cho cây xanh, bãi cỏ, ao, hồ, đường đi dạo bãi biển, sinh hoạt ngoài trời. Việc xây dựng Khu nghỉ dưỡng phải lựa theo địa hình nhưng nhất thiết không được tàn phá thiên nhiên mà phải hòa mình vào thiên nhiên.
Cây xanh được yêu cầu giữ lại tối đa khi xây dựng. Khu nghỉ dưỡng thường được xây dựng thành 3 khu vực: Khu vực lưu trú của khách, khu vực vui chơi giải trí và khu vực phục vụ. Trong đó, khu vực lưu trú của khách thường là một quần thế các khu biệt thự, nhà khối nhiều phòng, còn lại 12 là các bungalow xen lẫn sân vườn để đáp ứng sự riêng tư, thoải mái của khách. Tên phòng, bungalow thường được đặt theo các loài hoa, trái, chim chóc.
Khu vực vui chơi giải trí là khu vực chiếm diện tích lớn nhất trong ba khu vực ở Khu nghỉ dưỡng. Nó thường được bố trí cách biệt so với khu vực lưu trú của khách và thường có bể bơi, sân tennis, bãi biển, vườn cây. Khu vực phục vụ cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng phong phú và được bố trí thành khu vực riêng với các dịch vụ: ăn uống, thương mại, hội trường, bãi đậu xe, massage, vũ trường, casino. Thiết kế phải tạo ra một không gian để người sống trong đó được thư giãn tối đa.
Không gian nghỉ trong khu nghỉ dưỡng thường hiện đại nhưng mang bản sắc văn hóa, kỹ thuật địa phương. Đặc điểm về sản phẩm: Sản phẩm của khu nghỉ dưỡng rất đa dạng và phong phú. Trong khu nghỉ dưỡng là cả một thế giới thu nhỏ để khách lưu trú không phải đi ra ngoài tìm thú vui khác. Khu nghỉ dưỡng khác với các cơ sở lưu trú thông thường bởi hệ thống dịch vụ liên hoàn, tổng họp, có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách như lưu trú, ăn uống, dịch vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, luyện tập thể thao.
Do không gian rộng lớn, nên khu nghỉ dưỡng còn có thể tổ chức những loại hình sinh hoạt ngoài trời như đốt lửa trại, bóng chuyền trên bờ biển, bơi thuyền, câu cá và nhiều trò vui nhộn hấp dẫn. Sản phẩm của khu nghỉ dưỡng thường được bán theo hình thức trọn gói. Với hình thức bán này, cộng với chất lượng dịch vụ vượt trội nên mức giá ở các khu nghỉ dưỡng thường khá cao. Sản phâm của khu nghỉ dưỡng thường được bán theo chính sách giá phân biệt.
Đặc điểm về tổ chức lao động: Tùy thuộc vào thể loại, quy mô khu nghỉ dưỡng mà quá trình tổ chức lao động có những đặc điềm khác nhau. Nhìn chung về cơ bản cơ cấu tổ chức, các bộ phận hay mối quan hệ giữa các bộ phận tương tự như trong khách sạn có quy mô lớn. Do sản phẩm của khu nghỉ dưỡng rất đa dạng về mức độ nên việc huấn luyện nhân viên cũng khó hơn rất nhiều các cơ sở lưu trú khác. Hệ thống dịch vụ cộng sinh trong khu nghỉ dưỡng rất phong phú.
Do vậy bên cạnh đội ngũ nhân viên phục 13 vụ còn có nhiều chuyên viên khác như chuyên gia dạy nấu ăn, chuyên gia về chế độ dinh dưỡng, chuyên viên tâm lý, kỳ thuật viên vật lý trị liệu, chuyên viên luyện tập Yoga. Đẻ thể hiện không khí nghỉ dường thoải mái, nhân viên thường được thiết kế đồng phục nhiều màu. Sự hài lòng khách hàng 2. Khái niệm sự hài lòng khách hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng: Theo Oliver (1997), sự hài lòng của khách hàng là trạng thái tâm lý mà khách hàng cảm nhận về một công ty (tổ chức) khi những kỳ vọng của họ được thoả mãn hoặc là thoả mãn vượt qua sự mong đợi thông qua tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ.
Cadotte, Woodruff và Jenkins (1982) đã đưa ra định nghĩa: sự hài lòng là sự so sánh của những kỳ vọng với những trải nghiệm. Theo Fornell (1995), sự hài lòng hoặc sự thất vọng sau khi tiêu dùng, được định nghĩa như là phản ứng của khách hàng về việc đánh giá bằng cảm nhận sự khác nhau giữa kỳ vọng trước khi tiêu dùng với cảm nhận thực tế về sản phẩm sau khi tiêu dùng nó. Theo Hansemark và Albinsson (2004), sự hài lòng của khách hàng là một thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc một cảm xúc phản ứng với sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ tiếp nhận, đối với sự đáp ứng một số nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn. Kotler (2000), định nghĩa sự hài lòng như là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi của họ.
Như vậy, sự hài lòng thực chất là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được với những kỳ vọng. Nếu lợi ích thực tế đáp ứng kỳ vọng đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng hoặc ngược lại. Nếu lợi ích thực tế cao hơn mong đợi thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng hoàn toàn. Phân loại sự hài lòng khách hàng + Theo một số nhà nghiên cứu, sự hài lòng của khách hàng phân thành ba nhóm và chúng có sự tác động khác nhau đến các nhà cung cấp dịch vụ: - Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction); - Hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction); - Hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction).
+ Căn cứ vào phản ứng tinh thần khi nhu cầu của khách hàng được đáp ứng, sự hài lòng của khách hàng được chia theo các loại: - Thỏa mãn; - Vui vẻ; - Giải thoát; - Mới lạ; - Ngạc nhiên mừng rỡ. + Căn cứ vào các tầng lớp khác nhau của hệ thống kinh doanh tiêu thụ, phân chia như sau, trong đó sự hài lòng về sản phẩm, dịch vụ là cơ bản nhất: - Sự hài lòng đối với doanh nghiệp; - Sự hài lòng với hệ thống kinh doanh tiêu thụ thị trường; - Sự hài lòng về sản phẩm, dịch vụ; - Sự hài lòng về nhân viên; - Sự hài lòng về hình ảnh và môi trường. + Căn cứ vào giai đoạn phát triển khác nhau trong quá trình mua, có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng thành bốn loại như sau: -Sự hài lòng trước khi mua; -Sự hài lòng khi mua hàng; -Sự hài lòng khi sử dụng; -Sự hài lòng sau khi sử dụng. Chất lượng dịch vụ 2.
Dịch vụ Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách 15 thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.