Tổng quan luận án

Tổn khuyết phần mềm vùng cẳng chân và cổ - bàn chân là thương tổn thường gặp trong thực hành lâm sàng do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, bỏng hoặc thứ phát sau cắt lọc ung thư và nạo viêm xương mạn tính. Đặc điểm giải phẫu của vùng cẳng - bàn chân có lớp mô dưới da mỏng, sát xương và gân, do đó các tổn thương sâu dễ dẫn đến lộ hoặc mất đoạn gân, lộ xương diện rộng, khuyết hổng không gian ba chiều. Các phương pháp tạo hình tại chỗ hoặc chuyển vạt đơn thuần thường không đáp ứng được yêu cầu vừa tái tạo cấu trúc chức năng (gân, cơ) vừa trám lấp khoảng chết và che phủ bề mặt.

Vạt đùi trước ngoài (Anterolateral Thigh Flap - ALT) từ khi được Song và cộng sự mô tả năm 1984 đã trở thành vạt mạch xuyên phổ biến trong phẫu thuật tạo hình nhờ cuống mạch dài, đường kính mạch phù hợp và ít để lại di chứng tại nơi cho vạt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng vạt đùi trước ngoài dưới dạng phức hợp tự do (kết hợp da, cân căng mạc đùi hoặc cơ rộng ngoài) để điều trị các tổn khuyết phức tạp vùng cẳng - bàn chân tại Việt Nam còn ít công trình khảo sát toàn diện cả về giải phẫu phân nhánh mạch máu lẫn ứng dụng lâm sàng một thì. Luận án tiến sĩ y học của tác giả Lê Hồng Phúc giải quyết khoảng trống nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa phương pháp tạo hình vi phẫu.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm giải phẫu phân nhánh động mạch mũ đùi ngoài.
  2. Đánh giá kết quả sử dụng vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do trong điều trị các tổn khuyết phức tạp cẳng - bàn chân.

Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm đối tượng: nghiên cứu giải phẫu trên xác người Việt Nam trưởng thành và nghiên cứu lâm sàng trên các bệnh nhân có tổn khuyết phần mềm phức tạp vùng cẳng - bàn chân được phẫu thuật tạo hình bằng vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do tại cơ sở thực hành chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình và Tạo hình thuộc Trường Đại học Y Hà Nội (hoàn thành và bảo vệ năm 2021).


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vạt đùi trước ngoài được Song và cộng sự (1984) công bố lần đầu để điều trị sẹo bỏng vùng đầu mặt cổ dựa trên nhánh xuyên cân da của nhánh xuống động mạch mũ đùi ngoài. Sau đó, Koshima (1989) mở rộng nghiên cứu trên 13 vạt lâm sàng và ghi nhận sự biến đổi giải phẫu của cuống mạch khi có 5 trường hợp cuống xuất phát từ nhánh xuống và 3 trường hợp từ nhánh ngang.

Về hình thái giải phẫu mạch nuôi, các tác giả quốc tế đã xác lập nhiều hệ thống phân loại:

  • Yu (2000): Khảo sát 72 trường hợp, phân chia 3 loại hình thái: Loại I mạch xuyên từ nhánh xuống (90%), Loại II từ nhánh ngang (4%), Loại III từ động mạch đùi sâu (4%).
  • Shieh (1998): Mạch xuyên da xuất phát từ nhánh xuống xuyên cơ rộng ngoài chiếm 56,8%, nhánh xuống xuyên vách 27%, nhánh ngang xuyên cơ 10,8% và nhánh ngang xuyên vách 5,4%.
  • Kimata (1998): Khảo sát 74 vạt, ghi nhận 70 vạt có mạch xuyên (chia 8 dạng: nhánh xuống chiếm 84,3%, nhánh ngang 12,9%, đùi sâu 1,4%, đùi chung 1,4%) và có 5,4% không tìm thấy mạch xuyên đủ lớn.
  • Lakhiani (2012): Tổng quan trên 2.895 vạt từ 44 công trình quốc tế, ghi nhận mạch cấp máu từ nhánh xuống chiếm 57 - 100%, nhánh chếch 14 - 43%, nhánh ngang 4 - 35%, nhánh lên 2,6 - 14,5% và tỷ lệ không có mạch xuyên là 1,8%.
  • Choi S.W (2007) và Sananpannich K (2008): Khảo sát trên tiêu bản xác, phân loại nguyên ủy nhánh xuống từ thân chung động mạch mũ đùi ngoài chiếm ưu thế (68,4% - 81%), còn lại tách trực tiếp từ động mạch đùi sâu hoặc động mạch đùi.

Về khái niệm vạt phức hợp, Harii (1981) khởi xướng khái niệm vạt liên hợp (chimeric flap). Hallock G.G (2006) chuẩn hóa phân loại vạt phức hợp thành 3 nhóm: vạt dạng chùm (branch-based chimeric flaps), vạt dạng khối (perforator-based compound flaps) và vạt dạng kết hợp (fabricated/combined compound flaps). Kim và cộng sự (2015) tiếp tục phân loại vạt chùm thành 4 dạng: loại I cổ điển, loại II có nối mạch, loại III kiểu mạch xuyên và loại IV kiểu hỗn hợp.

Tại Việt Nam, vạt đùi trước ngoài được triển khai từ năm 1998 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Các tác giả trong nước đã có những đóng góp quan trọng:

  • Nguyễn Tài Sơn (2006) sử dụng 41 vạt ĐTN tạo hình đầu mặt cổ (tỷ lệ sống 97,56%).
  • Nguyễn Việt Tiến (2004) ứng dụng 23 vạt tạo hình chi thể (16 vạt tự do cẳng - bàn chân sống 100%).
  • Phạm Thị Việt Dung (2008) ứng dụng 22 vạt ĐTN (12 vạt vùng cẳng - bàn chân, tỷ lệ sống hoàn toàn 81,82%).
  • Trần Thiết Sơn (2011) báo cáo 74 vạt ĐTN ở nhiều vùng cơ thể.
  • Lê Diệp Linh (2011) nghiên cứu 28 tiêu bản xác (100% nhánh xuống từ ĐMMĐN) và ứng dụng lâm sàng vùng cổ mặt đạt tỷ lệ sống 94%.
  • Ngô Thái Hưng (2015) khảo sát 40 tiêu bản xác (nhánh xuống tách từ ĐMMĐN chiếm 92,5%, mạch xuyên cơ chiếm 70%) và ứng dụng lâm sàng thành công 93,8%.
  • Dương Mạnh Chiến (2018, 2019) nghiên cứu 37 vạt chùm, ghi nhận 75,3% nhánh xuống từ ĐMMĐN, tỷ lệ sống hoàn toàn 81,1%.
  • Trần Đăng Khoa khảo sát 60 tiêu bản xác, ghi nhận 13 kiểu phân nhánh ĐMMĐN xếp thành 5 nhóm.

Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết là làm rõ mối tương quan định lượng giữa các nhánh xuyên da và nhánh nuôi cơ/cân của hệ thống động mạch mũ đùi ngoài trên xác người Việt Nam, từ đó xây dựng chỉ định và quy trình phẫu thuật vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do (kết hợp da - cơ rộng ngoài hoặc da - cân mạc) để tái tạo một thì các tổn khuyết phức tạp cẳng - bàn chân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân loại

Luận án ứng dụng các hệ thống lý thuyết và thang phân loại giải phẫu - phẫu thuật quốc tế:

  1. Lý thuyết phân vùng cấp máu động mạch mũ đùi ngoài: Giải phẫu kinh điển và các biến thể phân nhánh thành nhánh lên, nhánh ngang, nhánh xuống và nhánh chếch (oblique branch) theo Wong (2009).
  2. Khung phân loại vạt phức hợp: Áp dụng hệ thống phân loại của Hallock (2006) và Kim (2015) về vạt dạng chùm, dạng khối và dạng hỗn hợp.
  3. Phân loại tổn khuyết phần mềm phức tạp: Dựa trên phân loại của Milomir Ninkovic:
    • Tổn khuyết phần mềm ba chiều cần tạo hình phủ kết hợp độn để trám khoảng chết.
    • Tổn khuyết phần mềm kèm mất cấu trúc giải phẫu (mất gân, thần kinh) cần tái tạo một thì.
    • Tổn khuyết phần mềm kèm mất xương cần tạo hình phủ - độn trám khoảng chết hoặc phối hợp ghép xương.
  4. Phân độ tổn thương gãy xương hở: Sử dụng thang phân loại Gustilo (IIIB, IIIC) trong chấn thương chi dưới.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng thiết kế kết hợp giữa nghiên cứu mô tả cắt ngang giải phẫu thực nghiệm và nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng.

Nội dung Nghiên cứu giải phẫu trên xác Nghiên cứu ứng dụng lâm sàng
Đối tượng Các thi thể người Việt Nam trưởng thành được bảo quản theo quy chuẩn y học. Bệnh nhân có tổn khuyết phần mềm phức tạp cẳng - bàn chân có chỉ định phẫu thuật tạo hình vi phẫu.
Phương pháp thu thập Phẫu tích từng lớp vùng đùi trước ngoài dọc theo đường chuẩn nối gai chậu trước trên đến bờ ngoài xương bánh chè; bộc lộ ĐMMĐN và các nhánh. Phẫu tích vạt ĐTN phức hợp theo thiết kế (da - cân mạc, da - cơ rộng ngoài, vạt chùm); chuyển vạt tự do và khâu nối vi phẫu mạch máu.
Chỉ số đo lường - Nguyên ủy ĐMMĐN và các nhánh bên.
- Chiều dài, đường kính ngoài cuống mạch.
- Số lượng, vị trí, đường kính, phân loại mạch xuyên (xuyên cơ, xuyên vách).
- Tương quan nhánh xuyên da và nhánh nuôi cơ.
- Nguyên nhân, vị trí, kích thước khuyết hổng.
- Loại vạt phức hợp, kỹ thuật miệng nối (tận - tận, T-shape).
- Tỷ lệ sống của vạt (sống hoàn toàn, hoại tử một phần, thất bại).
- Biến chứng nơi cho và nơi nhận.
- Kết quả gần và kết quả xa (thẩm mỹ, chức năng đi lại, chu vi vòng đùi).
Xử lý số liệu Thống kê y học mô tả, phân tích tương quan giữa các nhánh mạch. So sánh tỷ lệ phần trăm, đánh giá chức năng và biến chứng theo dõi dọc.
Đạo đức nghiên cứu Tuân thủ quy định pháp luật và y đức về giải phẫu trên thi thể hiến tặng. Được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức nghiên cứu y sinh học; bệnh nhân đồng thuận tham gia.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết toàn diện y văn về giải phẫu vùng đùi trước ngoài và các phương pháp tạo hình khuyết hổng cẳng - bàn chân.

  • Giải phẫu động mạch mũ đùi ngoài: ĐMMĐN thường xuất phát từ động mạch đùi sâu, phân thành nhánh lên, nhánh ngang và nhánh xuống. Nhánh lên cấp máu cho cơ căng mạc đùi và da vùng mấu chuyển lớn; nhánh ngang đi quanh cổ xương đùi; nhánh xuống đi trong rãnh giữa cơ thẳng đùi và cơ rộng ngoài, cấp máu cho khối cơ rộng và cho các nhánh xuyên nuôi da mặt trước ngoài đùi. Một số tác giả ghi nhận nhánh chếch tách từ nhánh xuống (36%), nhánh ngang (52%) hoặc thân ĐMMĐN (6%).
  • Đặc điểm mạch xuyên: Mạch xuyên da gồm hai dạng chính là mạch xuyên cơ (chiếm 60 - 87,1% theo Xu, Kuo, Wei, Trần Thiết Sơn, Ngô Thái Hưng) và mạch xuyên vách gian cơ (12,9 - 40%). Mạch xuyên tập trung chủ yếu ở đoạn giữa đường chuẩn nối gai chậu trước trên với bờ ngoài xương bánh chè (khoảng 4/10 đến 8/10 theo Yu và Choi, hoặc 2/8 đến 6/8 theo Trần Đăng Khoa; nằm trong đường tròn bán kính 3 - 5 cm quanh điểm giữa).
  • Vạt phức hợp và ứng dụng: Phân tích ưu thế của vạt phức hợp trong việc tái tạo gân gót (kết hợp cân căng mạc đùi) hoặc lấp đầy khoảng chết viêm xương/mất phần mềm sâu (kết hợp cơ rộng ngoài) chỉ với một cuống mạch và một vị trí nối mạch vi phẫu.
  • Biến chứng nơi cho vạt: Y văn ghi nhận tỷ lệ biến chứng thấp (hội chứng khoang 0,09%, tụ máu 0,7%, nhiễm trùng 2,2%, giảm cảm giác ngoài đùi 24% theo Collins 2012; sức cơ tứ đầu đùi phục hồi tương đương chân lành theo Kuo 2001 và Townley 2011).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm và can thiệp:

  • Thiết kế kỹ thuật phẫu tích giải phẫu: Rạch da theo bờ trong cơ may, bộc lộ rãnh liên cơ thẳng đùi - rộng ngoài, kiểm tra nguồn gốc ĐMMĐN từ ĐM đùi sâu hay ĐM đùi; đo đạc khẩu kính tại nguyên ủy, đếm số lượng nhánh cơ và mạch xuyên ra da, phân loại đường kính mạch xuyên.
  • Quy trình lâm sàng: Đánh giá tổn thương cẳng - bàn chân (phân loại theo nguyên nhân chấn thương, gãy hở Gustilo, viêm rò mạn tính, cắt bỏ u mô mềm; phân loại theo tính chất khuyết hổng 3 chiều hoặc mất cấu trúc).
  • Kỹ thuật lấy vạt và phục hồi: Thiết kế vạt ĐTN dạng khối hoặc dạng chùm; lấy vạt kèm một phần cơ rộng ngoài để độn ổ khuyết hoặc lấy kèm dải cân căng mạc đùi để tạo hình gân; kỹ thuật khâu nối mạch máu tận - tận hoặc miệng nối chữ T (T-shape) nhằm bảo tồn dòng chảy ngoại vi của động mạch chày trước; theo dõi chăm sóc sau mổ và phục hồi chức năng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này trình bày các dữ liệu thực nghiệm giải phẫu và kết quả lâm sàng:

  • Đặc điểm giải phẫu ĐMMĐN:
    • Mô tả tỷ lệ các kiểu nguyên ủy và phân nhánh của nhánh lên, nhánh ngang, nhánh xuống.
    • Thống kê khẩu kính động mạch tại nguyên ủy, chiều dài cuống mạch chính.
    • Xác định số lượng nhánh bên trung bình của nhánh xuống, mối tương quan giữa số lượng nhánh xuyên da và nhánh bên nuôi cơ rộng ngoài, cơ thẳng đùi, cơ rộng giữa.
    • Phân bố và phân lớp đường kính các mạch xuyên da của nhánh lên và nhánh xuống.
  • Kết quả lâm sàng:
    • Đặc điểm khuyết hổng: Phân bố theo nguyên nhân (TNGT, TNSH, loét/viêm mạn tính, di chứng bỏng), vị trí tổn thương (1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới cẳng chân, vùng gót chân, mu chân, gan chân) và tổn thương kết hợp (lộ xương, mất xương, đứt mất gân gót/gân duỗi).
    • Sử dụng vạt: Các biến thể vạt phức hợp được thực hiện (vạt da cân - cân mạc đùi tái tạo gân một thì, vạt da - cơ rộng ngoài độn khoảng chết, vạt 3 thành phần da - cân - cơ).
    • Đánh giá miệng nối: Tỷ lệ miệng nối tận - tận và miệng nối dạng chữ T (T-shape); tình trạng thông suốt của mạch máu sau mổ.
    • Đánh giá sức sống của vạt: Tỷ lệ vạt sống hoàn toàn, tỷ lệ hoại tử một phần, tỷ lệ thất bại (tắc mạch).
    • Đánh giá nơi cho và nơi nhận: Tình trạng liền vết mổ, tỷ lệ ghép da nơi cho vạt, biến chứng tụ dịch/nhiễm trùng; kết quả lâu dài về chu vi vòng đùi hai bên, sức cơ và cảm giác vùng đùi.

Chương 4: Bàn luận

Chương này đối chiếu, phân tích chuyên sâu các phát hiện nghiên cứu với y văn:

  • Đặc điểm giải phẫu ứng dụng: So sánh các dạng nguyên ủy và phân nhánh của ĐMMĐN với các nghiên cứu của Choi (2007), Sananpannich (2008), Lê Diệp Linh (2011), Ngô Thái Hưng (2015), Dương Mạnh Chiến (2019). Khẳng định tính ổn định của nhánh xuống và khả năng linh hoạt trong việc lấy các nhánh nuôi cơ và mạch xuyên da trên cùng một thân cuống mạch.
  • Tính linh hoạt của vạt ĐTN phức hợp trong lâm sàng: Phân tích hiệu quả vượt trội của vạt phức hợp trong việc tái tạo đồng thời các cấu trúc giải phẫu bị mất (gân Achille, hệ thống duỗi) và che phủ bề mặt trong một thì mổ duy nhất, đối chiếu với các kết quả của Kuo (2002), Wong (2011), Houtmeyers (2012), Song Seung Han (2013).
  • Đánh giá kết quả phẫu thuật và miệng nối: So sánh tỷ lệ thành công của vạt với các nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích lợi thế của miệng nối mạch chữ T trong việc duy trì tưới máu trục chi dưới ở bệnh nhân có tổn thương mạch máu chày.
  • Ảnh hưởng tại nơi cho vạt: Đánh giá mức độ suy giảm chu vi đùi và sức cơ tứ đầu sau khi lấy một phần cơ rộng ngoài hoặc cân đùi, đối chiếu với các dữ liệu của Kuo (2001), Townley (2011) và Collins (2012) để khẳng định mức độ an toàn của kỹ thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận giải phẫu

  • Cung cấp dữ liệu chi tiết về đặc điểm phân nhánh của hệ thống động mạch mũ đùi ngoài trên người Việt Nam, đặc biệt là mối tương quan số lượng và vị trí giữa mạch xuyên nuôi da và nhánh bên cấp máu cho các cơ vùng đùi trước ngoài (cơ rộng ngoài, cơ thẳng đùi).
  • Xác lập cơ sở giải phẫu chuẩn xác cho việc thiết kế và bóc tách các dạng vạt phức hợp (da cân kết hợp cân cơ căng mạc đùi, da cơ rộng ngoài dạng khối hoặc dạng chùm) dựa trên một cuống mạch thống nhất.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Xây dựng chỉ định và quy trình kỹ thuật tạo hình một thì sử dụng vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do để giải quyết đồng thời các tổn khuyết phần mềm phức tạp cẳng - bàn chân: vừa che phủ tổn thương diện rộng, vừa trám lấp khoảng chết ổ viêm xương/mất mô sâu, vừa tái tạo gân chức năng (gân Achille, gân duỗi).
  • Áp dụng kỹ thuật nối mạch vi phẫu linh hoạt (bao gồm miệng nối dạng chữ T - T-shape), giúp cấp máu an toàn cho nhiều thành phần mô của vạt phức hợp chỉ với một vị trí can thiệp mạch, đồng thời bảo tồn lưu thông máu ngoại vi cho bàn chân.
  • Rút ngắn số lần phẫu thuật, giảm thời gian điều trị toàn diện, phục hồi sớm chức năng vận động và dáng đi cho bệnh nhân, hạn chế tối đa di chứng tàn tật và tỷ lệ cắt cụt chi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Số lượng bệnh nhân thực hiện vạt phức hợp vi phẫu ở các thể hiếm gặp (như vạt kết hợp 3 thành phần da - cân - cơ) còn hạn chế do tiêu chuẩn chọn bệnh nhân khắt khe.
  • Thời gian theo dõi đánh giá chức năng vận động chuyên sâu và điện cơ tại nơi cho vạt ở giai đoạn dài hạn cần được tiếp tục tích lũy thêm số liệu trên cỡ mẫu lớn hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi dọc dài hạn về khả năng chịu lực tỳ đè và hồi phục cảm giác sâu của vạt phức hợp tại vùng bàn chân và gót chân.
  • Mở rộng nghiên cứu ứng dụng vạt ĐTN phức hợp có nối ghép thần kinh cảm giác/vận động và cải tiến các kỹ thuật tạo hình vi phẫu trong các tổn khuyết phức tạp khác của chi thể.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao cho các đối tượng sau:

  • Phẫu thuật viên Tạo hình và Chấn thương Chỉnh hình: Cung cấp hướng dẫn giải phẫu chi tiết, kỹ thuật bóc tách vạt vi phẫu phức hợp và xử trí các tổn khuyết phức tạp khó điều trị vùng cẳng - bàn chân.
  • Nghiên cứu sinh, Học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa/Tạo hình: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa giải phẫu thực nghiệm trên xác và ứng dụng lâm sàng vi phẫu.
  • Các cơ sở y tế chuyên khoa tuyến tỉnh và trung ương: Cung cấp cơ sở khoa học để triển khai kỹ thuật phẫu thuật tạo hình vi phẫu một thì, nâng cao chất lượng điều trị bảo tồn chi thể sau chấn thương nặng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vạt đùi trước ngoài được Song và cộng sự mô tả lần đầu vào năm nào và có đặc điểm gì?
Vạt đùi trước ngoài được Song và cộng sự mô tả lần đầu tiên vào năm 1984 như một vạt dựa trên nhánh xuyên cân da xuất phát từ nhánh xuống của động mạch mũ đùi ngoài để điều trị sẹo bỏng vùng đầu mặt cổ; trong công bố ban đầu tác giả ghi nhận 100% trường hợp mạch xuyên đi qua vách liên cơ ra da.

2. Vạt phức hợp theo phân loại của Hallock (2006) gồm những loại nào?
Hallock (2006) phân chia vạt phức hợp thành 3 loại chính:

  • Vạt phức hợp dạng chùm (Branch-based chimeric compound flaps): các vạt thành phần được nuôi bởi các nhánh riêng tách từ một cuống mạch chung.
  • Vạt phức hợp dạng khối (Perforator-based compound flaps): mỗi thành phần được nuôi bởi một mạch xuyên khác nhau từ cùng một nguồn mạch nhưng lấy liền khối mô.
  • Vạt phức hợp dạng kết hợp (Fabricated/combined compound flaps): tạo thành bằng cách nối thêm một vạt khác vào mạch nuôi của vạt chính bằng kỹ thuật vi phẫu (nối tiếp hoặc nối bên).

3. Ưu điểm nổi bật của vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do trong điều trị tổn khuyết cẳng - bàn chân là gì?
Ưu điểm lớn nhất là cho phép thực hiện phẫu thuật một thì để giải quyết đồng thời nhiều mục tiêu: che phủ bề mặt khuyết hổng rộng, trám lấp khoảng chết ba chiều (nhờ khối cơ rộng ngoài), tái tạo cấu trúc giải phẫu bị mất như gân gót/gân duỗi (nhờ dải cân căng mạc đùi) và giảm thiểu số lượng miệng nối vi phẫu (chỉ cần một miệng nối cho cuống mạch chính).

4. Mạch xuyên da vùng đùi trước ngoài chủ yếu là dạng xuyên cơ hay xuyên vách theo các nghiên cứu sau này?
Khác với mô tả ban đầu của Song (1984), đa số các nghiên cứu giải phẫu sau này (Xu 1988, Kuo 2001, Wei 2002, Trần Thiết Sơn, Ngô Thái Hưng 2015) đều khẳng định mạch xuyên cơ chiếm ưu thế tuyệt đối (từ 60% đến 87,1%), trong khi mạch xuyên vách gian cơ chỉ chiếm từ 12,9% đến 40%.

5. Miệng nối mạch máu dạng chữ T (T-shape) trong luận án có ý nghĩa gì?
Miệng nối chữ T được thực hiện khi nối tận - tận nhánh mạch vạt với thân mạch nhận chính (như động mạch chày trước), giúp cấp máu nuôi dưỡng toàn bộ vạt phức hợp mà vẫn bảo tồn dòng chảy xuôi dòng nuôi dưỡng phần xa của chi thể, tránh nguy cơ thiếu máu nuôi bàn chân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hồng Phúc đã hoàn thành toàn diện việc khảo sát đặc điểm giải phẫu phân nhánh động mạch mũ đùi ngoài và xác lập cơ sở khoa học cho ứng dụng vạt đùi trước ngoài phức hợp tự do. Công trình chứng minh tính an toàn, linh hoạt và hiệu quả cao của vạt phức hợp (kết hợp da - cơ rộng ngoài hoặc da - cân mạc) trong việc tái tạo một thì các tổn khuyết phần mềm phức tạp vùng cẳng - bàn chân. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Tạo hình, giúp nâng cao tỷ lệ cứu sống chi thể và phục hồi chức năng vận động cho người bệnh.