Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục mang tên “Sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975) ở trường Trung học phổ thông (Qua thực nghiệm sư phạm ở Kiên Giang)” do nghiên cứu sinh Lương Văn Khuê thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử (mã số: 9.11). Công trình được hoàn thành năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Thị Côi và PGS.TS. Hoàng Thanh Hải.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học được cụ thể hóa trong Luật Giáo dục năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2020) và Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông (THPT) đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp dạy học. Nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc là hai di tích lịch sử cách mạng đặc biệt, lưu giữ hệ thống chứng tích tố cáo tội ác chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời là biểu tượng sáng ngời cho tinh thần kiên trung, bất khuất của các chiến sĩ cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học Lịch sử Việt Nam (LSVN) giai đoạn 1930 - 1975 ở cấp THPT, việc khai thác hai nguồn sử liệu này còn bộc lộ nhiều khoảng trống:

  • Giáo viên (GV) chưa nhận thức đầy đủ giá trị sư phạm của nguồn sử liệu (SL) nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc; gặp nhiều khó khăn trong khâu sưu tầm, xử lý và lựa chọn tư liệu tích hợp vào bài học.
  • Học sinh (HS) phần lớn tiếp nhận thụ động theo hướng dẫn một chiều trên lớp, chưa hiểu rõ tác dụng của nguồn sử liệu đối với việc tái hiện quá khứ và khắc sâu kiến thức lịch sử dân tộc.
  • Tình trạng phân biệt môn chính, môn phụ trong nhận thức xã hội khiến một bộ phận HS giảm sút hứng thú đối với môn Lịch sử.
  • Thiếu vắng một hệ thống lí luận và quy trình biện pháp sư phạm hoàn chỉnh nhằm hướng dẫn GV khai thác, tích hợp nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và Phú Quốc vào các khâu của tiến trình dạy học nội khóa và hoạt động trải nghiệm.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khẳng định vai trò, ý nghĩa; xác định nội dung nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc cần khai thác; từ đó đề xuất các hình thức, biện pháp sư phạm sử dụng hai nguồn sử liệu này trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975) ở trường THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 5 nội dung:

  1. Nghiên cứu hệ thống tài liệu, công trình khoa học liên quan đến lí luận sử dụng nguồn sử liệu trong dạy học lịch sử (DHLS) và các công trình về nhà tù Côn Đảo, nhà tù Phú Quốc.
  2. Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong DHLS Việt Nam (1930 - 1975) tại các trường THPT trong các năm học từ 2016 - 2017 đến 2018 - 2019.
  3. Xác định hệ thống nội dung nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc có thể và cần thiết khai thác trong chương trình LSVN (1930 - 1975) cấp THPT.
  4. Xây dựng và đề xuất các hình thức, biện pháp sư phạm sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong bài học nội khóa và hoạt động dạy học.
  5. Tổ chức thực nghiệm sư phạm (từng phần và toàn phần) tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Giả thuyết khoa học

Thực tiễn việc sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trực tiếp hay gián tiếp trong dạy học LSVN (1930 - 1975) ở trường THPT còn nhiều bất cập. Nếu xác định được nội dung nguồn sử liệu cần khai thác và đề xuất được hệ thống hình thức, biện pháp sư phạm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường và đối tượng học sinh, thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học bộ môn Lịch sử và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975) ở trường THPT, trọng tâm là các hình thức và biện pháp sư phạm.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào chương trình và sách giáo khoa (SGK) Lịch sử lớp 12 hiện hành (chương trình chuẩn) và các chủ đề, chuyên đề liên quan trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
  • Phạm vi không gian và địa bàn khảo sát: Khảo sát thực trạng tại một số trường THPT tiêu biểu theo vùng miền trên cả nước; tiến hành thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT thuộc tỉnh Kiên Giang (như THPT Lại Sơn, THPT Phú Quốc, THPT An Thới, THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Ngô Sỹ Liên, THPT Ba Hòn, THPT Kiên Hải, THPT Bình Sơn, THPT Mong Thọ, THPT Nguyễn Thần Hiến, THPT Phan Thị Ràng).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu thực trạng từ năm học 2016 - 2017 đến năm học 2018 - 2019; giới hạn sự kiện lịch sử khai thác thuộc giai đoạn 1930 - 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai mạch hướng chính:

                                  HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN
Hướng 1: Lịch sử, tư liệu về Nhà tù Côn Đảo & Phú Quốc        Hướng 2: Lí luận & Phương pháp sử dụng SL, di tích trong DHLS
    (2000, 2006, 2009, 2014), Trần Đình Thống (2012),             Nguyễn Văn Ninh (2016), Đỗ Hồng Thái (2008), Mai Văn Nam (2019),
    Trần Văn Khiêm (2018), Kỷ yếu Hội thảo 1995, 2013...           Phạm Thị Thanh Huyền (2020), Lương Văn Khuê (2016, 2018, 2019)...

Nhóm nghiên cứu về nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc

  • Nghiên cứu quốc tế: Cuốn Chế độ Sài Gòn - một chế độ trại giam (NXB Đông Nam Á, Paris, 1970) trích dẫn báo cáo của đại diện Ủy hội Quốc tế Hồng thập tự phơi bày chế độ ngược đãi tù binh tại Phú Quốc. Holmes Brown và Don Luce trong Những con tin chiến tranh - các tù chính trị ở Sài Gòn (1973) miêu tả các hình thức tra tấn, đặc biệt là hệ thống chuồng cọp. Tác phẩm Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn - chúng tôi vạch tội (André Menras và Jean-Pierre Debris, NXB Trẻ dịch năm 2004) cung cấp bằng chứng về mô hình biệt giam tại Côn Đảo. Các bài báo trên Life Asia (Larry Burrows, 1969 - 1970) và tạp chí Times (1970, 1973) đã công bố phóng sự điều tra về các chuồng cọp tại đảo Côn Sơn.
  • Nghiên cứu trong nước: Trần Văn Quế với Côn Lôn quần đảo trước ngày 9-3-1945 (1961) ghi chép về các cuộc vượt ngục. Bùi Văn Toản có chuỗi công trình chuyên khảo: Côn Đảo - 6.694 ngày đêm đấu tranh chính trị (11/1/1957 - 30/04/1975) (2000), Côn Đảo - Bản anh hùng ca bất khuất (2006), Nhà tù Côn Đảo - Danh sách hy sinh và từ trần giai đoạn 1930-1975 (2009), và bộ sưu tập Báo chí của tù nhân Trại 6 Khu B Côn Đảo (2014). Trần Đình Thống, Nguyễn Linh, Hồ Sĩ Hành công bố Lịch sử nhà tù Côn Đảo (2013). Về nhà tù Phú Quốc, có cuốn Huyền thoại Phú Quốc (2008), công trình của Ban liên lạc tù binh Việt Nam (2014) và nghiên cứu của Trần Văn Khiêm (2018). Kỷ yếu hội thảo khoa học do Tỉnh ủy Kiên Giang (1995) và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Ban Liên lạc tù binh toàn quốc tổ chức (2013) đã cung cấp nhiều bài tham luận và hồi ký nhân chứng lịch sử (Lê Quang Ba, Cao Sinh Học, Huỳnh Nhất Tịnh, Đinh Trường Sơn...).

Nhóm nghiên cứu về phương pháp sử dụng nguồn sử liệu và di tích trong dạy học

  • Tác giả quốc tế: Đ. Nikiphôrốp (Nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử, 1964), M.N. Sacđacốp (Tư duy học sinh, 1970), A.A. Vaghin (Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông, 1972), N.G. Đairi (Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?, 1973), I.Ia. Lecne (Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử, 1982), C. Druzhkova (1986), M.T. Studenikin (1999) đã xác lập hệ thống nguyên tắc trực quan, coi di tích lịch sử và hiện vật là nguồn kiến thức khách quan giúp tạo biểu tượng lịch sử sinh động. Peter Howard (2003) phân loại các lĩnh vực di sản. Nhóm tác giả Châu Âu Veerle De Troyer và cộng sự (Di sản trong lớp học: Hướng dẫn thực hành cho GV, 2005) đưa ra 34 ví dụ ứng dụng di sản vào bài học. Woodward (Teaching History with Museums, 2013) đề xuất quy trình ba bước (trước, trong và sau tham quan bảo tàng). Terry Haydn (2013) nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới trong khai thác tư liệu lịch sử.
  • Tác giả trong nước: Các nghiên cứu của Hoàng Thanh Hải (1996, 1997, 2000, 2013), Nguyễn Văn Ninh (2016), Ngô Thị Lan Hương (2013) cùng các luận án tiến sĩ chuyên ngành LL&PPDH Lịch sử của Nguyễn Thành Nhân (2007), Đỗ Hồng Thái (2008), Phạm Xuân Vũ (2015), Nguyễn Thị Vân (2018), Nguyễn Thị Duyên (2019), Mai Văn Nam (2019), Phạm Thị Thanh Huyền (2020) đã nghiên cứu khai thác di tích địa phương, di tích quốc gia đặc biệt, bảo tàng vào dạy học môn Lịch sử.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các công trình lịch sử đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú về nhà tù Côn Đảo và Phú Quốc, đồng thời các nghiên cứu giáo dục đã khẳng định vai trò của di tích, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống về việc khai thác và phối hợp nguồn sử liệu của cả hai nhà tù Côn Đảo và Phú Quốc vào dạy học lịch sử dân tộc giai đoạn 1930 - 1975 ở cấp THPT, gắn liền với thực nghiệm sư phạm trên địa bàn trọng điểm Kiên Giang.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Cơ sở phương pháp luận: Quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục phổ thông.
  • Khái niệm "Sử liệu trong dạy học lịch sử": Là dấu tích, hiện vật còn lại của quá khứ, là nguồn nhận thức lịch sử phản ánh các sự kiện, hiện tượng trong chương trình Lịch sử phổ thông, đóng vai trò là nguồn kiến thức bên ngoài bổ trợ cho việc lĩnh hội kiến thức cơ bản trong SGK.
  • Khái niệm "Sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc": Là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá và xử lý nguồn sử liệu của di tích hai nhà tù nhằm chiếm lĩnh tri thức lịch sử, phát triển năng lực bộ môn và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức.
                           PHÂN LOẠI NGUỒN SỬ LIỆU TRONG LUẬN ÁN
Sử liệu hiện vật       Sử liệu thành văn              Sử liệu ngôn ngữ       Sử liệu tranh ảnh, nghe nhìn
(Dấu tích công trình,  (Văn kiện Đảng bộ nhà tù,      (Lời kể nhân chứng,    (Ảnh tư liệu chuồng cọp,
 công cụ tra tấn,       nghị quyết, địa phương chí,    cựu tù chính trị,      phim tư liệu, mô hình 3D
 vật dụng vượt ngục...) hồi ký, tài liệu lưu trữ...)   băng ghi âm...)        di tích ảo...)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính, điều tra định lượng và thực nghiệm sư phạm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu về Giáo dục học, Tâm lý học, Lí luận và PPDH Lịch sử; phân tích cấu trúc chương trình và SGK Lịch sử lớp 12 hiện hành, đối chiếu các chủ đề trong Chương trình GDPT 2018.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và học sinh THPT; phỏng vấn sâu cán bộ quản lý di tích, giáo viên cốt cán; quan sát, dự giờ các tiết học lịch sử có và không có sử dụng nguồn sử liệu di tích.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế các kế hoạch bài dạy (KHBD), tiến hành dạy thực nghiệm từng phần và toàn phần tại các trường THPT thuộc tỉnh Kiên Giang với hệ thống bài học được lựa chọn; bố trí các cặp lớp thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) tương đương nhau về năng lực đầu vào.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng các công thức thống kê trong giáo dục học để xử lý, đối chiếu điểm số bài kiểm tra, tính toán các tham số thống kê cơ bản nhằm kiểm định độ tin cậy và sự khác biệt có ý nghĩa giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu thực nghiệm

  • Nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Viện Lịch sử Đảng, Bảo tàng Côn Đảo, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh.
  • Dữ liệu hiện vật, hình ảnh, văn bia, sa bàn tại Ban Quản lý Di tích Nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Ban Quản lý Di tích Trại giam Tù binh Phú Quốc (Kiên Giang).
  • Dữ liệu khảo sát từ phiếu điều tra GV và HS tại các trường THPT thuộc nhiều vùng miền trong giai đoạn 2016 - 2019.
  • Dữ liệu điểm số kiểm tra đánh giá thu được từ các đợt thực nghiệm sư phạm tại 10 trường THPT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan theo hai hướng tiếp cận chính:

  1. Các công trình về nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc: Đánh giá các tài liệu lịch sử, hồi ký cựu tù binh, các báo cáo quốc tế và kỷ yếu hội thảo khoa học. Các tài liệu này làm rõ bối cảnh lịch sử, tội ác chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (qua hệ thống chuồng cọp, hầm xay lúa, các thủ đoạn tra tấn thể xác và tinh thần), đồng thời tái hiện cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết người cộng sản, phong trào tuyệt thực, hoạt động báo chí trong tù (tiêu biểu ở Trại 6 Khu B) và các cuộc vượt ngục tiêu biểu.
  2. Các công trình về lí luận và phương pháp sử dụng nguồn sử liệu, di tích lịch sử trong dạy học: Tổng thuật các quan điểm của các nhà sư phạm Liên Xô (cũ), các nước phương Tây và các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam về nguyên tắc trực quan, phương pháp dạy học lịch sử tại thực địa bảo tàng, di tích.

Từ việc phân tích tổng quan, tác giả rút ra những vấn đề luận án kế thừa (cơ sở lí luận về đồ dùng trực quan, giá trị của di sản lịch sử) và xác định 5 nhóm vấn đề mới cần giải quyết nhằm xây dựng hệ thống biện pháp thực hành dạy học bài học nội khóa phần Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975).

Chương 2: Vấn đề sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm sáng tỏ các luận điểm nền tảng và bức tranh thực tế về dạy học lịch sử:

  • Cơ sở lý luận: Làm rõ đặc điểm của nguồn sử liệu hai nhà tù (tính chân thực, độ tin cậy cao, tính biểu cảm sâu sắc, phản ánh tính chất ác liệt của cuộc đấu tranh chống ly khai và giữ vững lý tưởng cách mạng). Phân tích vai trò, ý nghĩa của nguồn sử liệu đối với việc hình thành biểu tượng lịch sử, phát triển tư duy độc lập, rèn luyện năng lực tự học và giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho học sinh.
  • Cơ sở thực tiễn: Khảo sát và công bố số liệu điều tra thực trạng tại các trường THPT (thể hiện qua các bảng biểu từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.10 và các Biểu đồ từ 2.1 đến 2.4 trong luận án).
Nội dung khảo sát thực trạng Kết quả và phát hiện chính từ số liệu điều tra
Nhận thức của giáo viên Đại đa số GV khẳng định việc sử dụng nguồn sử liệu di tích là rất cần thiết, song mức độ sử dụng thường xuyên còn thấp do thiếu thời gian và thiếu nguồn tư liệu đã qua xử lý sư phạm.
Mức độ yêu thích của học sinh Tỉ lệ HS thực sự say mê môn Lịch sử chưa cao; HS có nhu cầu được tiếp cận hình ảnh, hiện vật và các câu chuyện lịch sử chân thực thay vì ghi nhớ máy móc các mốc sự kiện khô khan.
Các biện pháp GV thường dùng GV chủ yếu dừng lại ở việc thuyết trình minh họa bằng tranh ảnh có sẵn trong SGK; ít tổ chức cho HS phân tích, xử lý nguồn sử liệu thành văn hoặc trải nghiệm qua bảo tàng ảo.
Khó khăn gặp phải Thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể; cơ sở vật chất, trang thiết bị công nghệ thông tin chưa đồng bộ; thời lượng tiết học trên lớp bị hạn chế.

Chương 3: Nội dung và hình thức sử dụng nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 – 1975) ở trường Trung học phổ thông

Chương 3 xác định mục tiêu, danh mục nội dung và hệ thống hóa các hình thức tổ chức dạy học:

  • Xác định địa chỉ nội dung trong chương trình: Luận án đối chiếu nội dung LSVN (1930 - 1975) theo SGK Lớp 12 chuẩn và các chủ đề chuyên đề Chương trình GDPT 2018, chỉ rõ các bài học có thể tích hợp nguồn sử liệu hai nhà tù (các giai đoạn: 1930 - 1945, Kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 - 1954, Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, phong trào chống phá “Ấp chiến lược”, phong trào phản đối tra tấn tù chính trị và đòi thi hành Hiệp định Paris năm 1973).
  • Danh mục nguồn sử liệu tiêu biểu được tuyển chọn:
    • Hiện vật, di tích: Khu biệt giam chuồng cọp Côn Đảo, Trại Phú Hải, Hầm xay lúa, Trại Phú Tường; Chuồng cọp kẽm gai Phú Quốc, mỏ neo ghe vượt ngục, đài bán dẫn tiếp nhận thông tin chỉ đạo, các vật dụng tra tấn (đinh đóng, vồ đập).
    • Sử liệu chữ viết và nhân vật: Bút tích chống ly khai Đảng, tài liệu sinh hoạt báo chí bí mật Trại 6 Khu B; gương chiến đấu và hy sinh của Tổng Bí thư Lê Hồng Phong, Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Tổng Bí thư Lê Duẩn, nữ Anh hùng Võ Thị Sáu, bà Trương Mỹ Hoa...
  • Các hình thức tổ chức dạy học:
    • Sử dụng trực tiếp: Tổ chức dạy học bài học lịch sử tại thực địa di tích Nhà tù Côn Đảo hoặc Nhà tù Phú Quốc; tổ chức hoạt động trải nghiệm, tham quan bảo tàng, dạ hội lịch sử kết hợp trưng bày triển lãm học tập.
    • Sử dụng gián tiếp: Khai thác nguồn sử liệu thông qua giờ học trên lớp; hướng dẫn HS tự học, nghiên cứu tư liệu qua mạng internet; thiết kế và khai thác không gian di tích ảo trên phần mềm Photo 3D.

Chương 4: Các biện pháp sử dụng nguồn sử liệu của nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc trong bài học nội khóa trên lớp phần Lịch sử Việt Nam (1930 – 1975) ở trường THPT (Thực nghiệm sư phạm)

Chương 4 tập trung xây dựng 5 biện pháp sư phạm cụ thể và tổ chức thực nghiệm đánh giá:

                            5 BIỆN PHÁP SƯ PHẠM TRONG BÀI NỘI KHÓA
  • Quy trình thực nghiệm sư phạm:
    • Đối tượng và địa bàn: Triển khai tại 10 trường THPT tỉnh Kiên Giang với sự tham gia của các giáo viên lịch sử giàu kinh nghiệm và các nhóm lớp TN - ĐC có trình độ tương đương.
    • Nội dung thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm từng phần (đánh giá hiệu quả của từng biện pháp riêng lẻ) và thực nghiệm toàn phần (tổ chức các bài học trọn vẹn theo Kế hoạch bài dạy đã thiết kế).
    • Kết quả thực nghiệm: Số liệu thu thập từ các bài kiểm tra được tổng hợp và phân tích qua các bảng so sánh (Bảng 4.2 đến Bảng 4.5 trong luận án). Kết quả cho thấy tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi ở các lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với các lớp đối chứng, điểm trung bình chung tăng lên, tỷ lệ điểm yếu kém giảm đáng kể; mức độ tích cực tham gia phát biểu và khả năng phân tích tư liệu của học sinh lớp thực nghiệm có sự chuyển biến rõ nét.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lí luận về việc sử dụng nguồn sử liệu di tích lịch sử cách mạng nói chung, nguồn sử liệu của hai di tích quốc gia đặc biệt là Nhà tù Côn Đảo và Nhà tù Phú Quốc nói riêng trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1975 ở cấp THPT.
  • Xác định rõ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc phân loại và tiêu chí lựa chọn nguồn sử liệu hai nhà tù phù hợp với mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Phác họa toàn diện bức tranh thực trạng về việc khai thác nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc tại các trường THPT trong giai đoạn 2016 - 2019, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong thực tiễn dạy học.
  • Xây dựng danh mục hệ thống nguồn sử liệu thành văn, hiện vật, hình ảnh và nhân chứng lịch sử tiêu biểu của hai nhà tù, chỉ rõ địa chỉ tích hợp vào từng bài học cụ thể trong chương trình Lịch sử lớp 12 và Chương trình GDPT 2018.
  • Đề xuất quy trình thực hiện 5 biện pháp sư phạm mang tính khả thi cao trong các bài học nội khóa trên lớp, kết hợp việc ứng dụng công nghệ thông tin (như thiết kế di tích ảo 3D) và đổi mới công tác kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi khai thác tư liệu gốc.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm tại 10 trường THPT tỉnh Kiên Giang cung cấp căn cứ thực tiễn khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

Khuyến nghị của tác giả

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo: Cần tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề về phương pháp khai thác di sản, sử liệu địa phương; bổ sung nguồn tư liệu số hóa và trang thiết bị trực quan cho các trường phổ thông.
  • Đối với Ban Giám hiệu các trường THPT: Tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí để tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm, ngoại khóa lịch sử tại các di tích hoặc bảo tàng.
  • Đối với Giáo viên Lịch sử: Cần chủ động sưu tầm, tích lũy và ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xử lý tư liệu; linh hoạt phối hợp các hình thức dạy học trực tiếp và gián tiếp nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phạm vi nội dung, luận án tập trung chủ yếu vào giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1975 gắn với chương trình SGK Lớp 12 hiện hành (chương trình chuẩn) và bước đầu liên hệ Chương trình 2018; chưa mở rộng khảo sát toàn bộ tiến trình lịch sử ở các khối lớp khác.
    • Về địa bàn thực nghiệm sư phạm, do điều kiện kinh phí và thời gian, việc tổ chức thực nghiệm toàn phần tập trung chủ yếu tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, chưa thể triển khai thực nghiệm mở rộng ở các tỉnh phía Bắc hoặc miền Trung.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu và ứng dụng toàn diện các biện pháp sư phạm vào tất cả các chủ đề, chuyên đề học tập Lịch sử cấp THPT theo Chương trình GDPT 2018 trên phạm vi toàn quốc.
    • Nghiên cứu sâu hơn việc ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR/AR) và chuyển đổi số trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa các di tích lịch sử cách mạng phục vụ dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp (blended learning).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giáo viên Lịch sử cấp THPT: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử đã được thẩm định khoa học và quy trình 5 biện pháp sư phạm cụ thể để áp dụng trực tiếp vào soạn giáo án, kế hoạch bài dạy và xây dựng đề kiểm tra đánh giá.
  • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Sư phạm Lịch sử: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục, kỹ thuật thiết kế thực nghiệm sư phạm và xử lý số liệu thống kê giáo dục.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý di tích: Cung cấp gợi ý thực tiễn về việc phối hợp giữa nhà trường phổ thông và ban quản lý các khu di tích lịch sử (Côn Đảo, Phú Quốc) trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống và phát huy giá trị di sản.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại nguồn sử liệu nhà tù Côn Đảo và nhà tù Phú Quốc thành những nhóm nào để phục vụ dạy học?

Tác giả luận án phân loại nguồn sử liệu của hai nhà tù phục vụ dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975) thành 4 nhóm chính: (1) Nhóm sử liệu hiện vật (các chứng tích, công cụ tra tấn, hầm giam, vật dụng vượt ngục...); (2) Nhóm sử liệu thành văn (văn kiện Đảng bộ nhà tù, lịch sử Đảng bộ địa phương, tài liệu lưu trữ, hồi ký); (3) Nhóm sử liệu ngôn ngữ (lời kể của các nhân chứng lịch sử, cựu tù chính trị); (4) Nhóm sử liệu tranh ảnh và nghe nhìn (ảnh tư liệu, phim tài liệu, mô hình di tích ảo 3D).

2. Tác giả đề xuất những biện pháp sư phạm cụ thể nào trong giờ học nội khóa trên lớp?

Luận án đề xuất 5 biện pháp sư phạm gồm:

  1. Sử dụng nguồn sử liệu kết hợp tài liệu tham khảo khác để tạo tình huống học tập, khởi động quá trình nhận thức.
  2. Sử dụng câu chuyện lịch sử kết hợp tranh ảnh, hiện vật để hình thành kiến thức mới, tạo biểu tượng nhân vật và sự kiện.
  3. Khai thác nguồn sử liệu để củng cố, luyện tập cho học sinh.
  4. Hướng dẫn học sinh sưu tầm nguồn sử liệu để kết nối kiến thức bài học với đời sống thực tiễn.
  5. Vận dụng nguồn sử liệu của hai nhà tù vào khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực.

3. Địa bàn thực nghiệm sư phạm của luận án được tiến hành ở đâu và gồm những trường nào?

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại 10 trường THPT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, tiêu biểu gồm: THPT Lại Sơn, THPT Phú Quốc, THPT An Thới, THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Ngô Sỹ Liên, THPT Ba Hòn, THPT Kiên Hải, THPT Bình Sơn, THPT Mong Thọ, THPT Nguyễn Thần Hiến và THPT Phan Thị Ràng.

4. Nguồn sử liệu quốc tế nào về nhà tù Côn Đảo và Phú Quốc được tác giả điểm lại trong tổng quan tài liệu?

Luận án điểm lại các công trình tiêu biểu như: cuốn Chế độ Sài Gòn - một chế độ trại giam của Robin Moore (1970) trích báo cáo của Ủy hội Quốc tế Hồng thập tự; cuốn Những con tin chiến tranh - các tù chính trị ở Sài Gòn của Holmes Brown và Don Luce (1973); tác phẩm Thoát khỏi ngục tù Sài Gòn - chúng tôi vạch tội của André Menras và Jean-Pierre Debris (2004); tạp chí Tù chính trị - một vấn đề của chế độ xã hội (Paris, 1974) cùng các phóng sự điều tra trên các tuần báo quốc tế như Life Asia (Larry Burrows, 1969 - 1970) và tạp chí Times (1970, 1973).

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh điều gì về tính khả thi của các biện pháp đề xuất?

Kết quả xử lý thống kê toán học các bài kiểm tra thực nghiệm từng phần và toàn phần cho thấy chất lượng học tập của các lớp thực nghiệm cao hơn rõ rệt so với các lớp đối chứng: tỉ lệ học sinh đạt điểm khá - giỏi tăng lên, điểm trung bình chung cao hơn, tỉ lệ học sinh yếu kém giảm; đồng thời học sinh ở lớp thực nghiệm thể hiện mức độ hứng thú học tập và năng lực phân tích tư liệu lịch sử vượt trội hơn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Văn Khuê là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về lí luận và phương pháp dạy học lịch sử, giải quyết thành công vấn đề khai thác nguồn sử liệu từ hai di tích lịch sử cách mạng đặc biệt là Nhà tù Côn Đảo và Nhà tù Phú Quốc vào dạy học Lịch sử Việt Nam (1930 - 1975) cấp THPT. Thông qua việc phân loại khoa học nguồn tư liệu và đề xuất 5 biện pháp sư phạm có quy trình rõ ràng, công trình đã gắn kết chặt chẽ giữa lí luận giáo dục học với thực tiễn giảng dạy tại nhà trường phổ thông. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại 10 trường THPT tỉnh Kiên Giang là minh chứng khách quan khẳng định tính khả thi và giá trị thực tiễn của đề tài trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.