MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam là một trong 5 nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Xã Thành Sơn là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Nông nghiệp là nền kinh tế chủ yếu của xã, xã có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi suối, núi nên đường giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao. Trong những năm qua trên địa bàn xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan kéo dài như sương muối, rét đậm, nắng nóng kéo dài thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp; lũ lụt, sạt lở đất thất thường. làm cho nền nông nghiệp của xã đang bị đe dọa. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng ngày một gia tăng, nông dân bị mất mùa thường xuyên phải thay đổi giống cây trồng mới, năng suất, chất lượng, nông sản giảm mạnh, ảnh hưởng tới sinh kế nông dân và nhất là nông dân các bản vùng cao.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều kết quả nghiên cứu, đánh giá các hoạt động thích ứng với BĐKH của hộ nông dân, đặc biệt là các hộ người dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp. Để tìm hiểu các biện pháp thích ứng của bà con dân tộc Thái áp dụng các kiến thức bản địa để ứng phó với BĐKH, em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu các kiến thức bản địa (KTBĐ) của đồng bào dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong sản xuất nông nghiệp, từ đó tiếp tục tìm hiểu, bổ xung và phát triển các KTBĐ giúp bà con nhân dân vùng dân tộc Thái có thêm kiến thức để ứng phó với BĐKH trong bối cảnh hiện nay và tương lai.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu cụ thể - Khảo sát đánh giá được thực trạng của người dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong việc sử dụng KTBĐ để ứng phó với BĐKH. - Đánh giá được những thuận lợi khó khăn của người dân tộc Thái trong việc vận dụng KTBĐ và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hoạt động thích ứng với hiện tượng BĐKH/thời tiết cực đoan. - Đề xuất giải pháp phát triển KTBĐ của người dân tộc thiểu số trong thích ứng BĐKH 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học tại trường và làm quen dần với công việc thực tế. - Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu của một đề tài khoa học cụ thể. - Tạo điều kiện cho sinh viên được vận dụng những kiến thức được học áp dụng vào thực tiễn và biết vận dụng kiến thức vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
- Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu có liên quan.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành, đưa ra phương hướng để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng vững mạnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. Nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm về BĐKH: là sự biến động giữa năm này và năm khác được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như: Bão, lụt, hạn hán bất thường.
Quan điểm ở đây về BĐKH chính là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian. Mốc đánh dấu thời gian BĐKH từ 30 năm trở lên. Theo Rex và đồng tác giả (2007), BĐKH ở Việt Nam đó là gia tăng nhiệt độ và ngày càng nóng hơn vào mùa hè và nhiệt độ cực thấp, kéo dài vào mùa đông, cũng như tần suất, cường độ của lụt, hạn, bão, rét hại và mưa thất thường xảy ra trong năm. BĐKH là những thay đổi của các yếu tố khí hậu hoặc các hiện tượng khí hậu cực đoan không theo một xu thế nhất định (khoảng thời gian xem xét ngắn hơn BĐKH).
BĐKH với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây phát thải quá mức gây hiệu ứng nhà kính.[10] Định nghĩa chung nhất cho sự BĐKH là sự thay đổi các đặc điểm mang tính thống kê của hệ thống khí hậu khi xét đến những chu kỳ dài hoặc hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân theo đó, những thay đổi bất thường trên những chu kỳ ngắn hơn một vài thập kỷ, như El Nino, không thể hiện sự thay đổi khí hậu. Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để nhắc đến những trường hợp đặc biệt của biến đổi khí hậu do tác động của hoạt động con người; ví dụ, trong công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa BĐKH là "là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài." Trong định nghĩa cuối thay đổi khí hậu đồng nghĩa với ấm lên toàn cầu. Kiến thức là một thuật ngữ mang tính triết học và có thể được định nghĩa là một tập hợp các sự kiện khác nhau và các đặc tính thông tin,được chia thành hai loại: kiến thức khoa học và KTBĐ.[12] Theo UNESCO (2010), KTBĐ là những tri thức địa phương, là duy nhất và đặc trưng cho một nền văn hóa và xã hội. Ashok Das Gupta (2012) cho rằng KTBĐ là một hệ thống của các tri thức mà người dân địa phương đạt được thông qua việc tích lũy kinh nghiệm, và các thử nghiệm không chính thức, và sự hiểu biết sâu sắc về môi trường trong một nền văn hóa cụ thể.
Okeke (2013) lại định nghĩa kiến thức bản địa là kiến thức địa phương được thể chế hóa, được xây dựng dựa trên lời nói và được truyền từ người/thế hệ này sang người/thế hệ khác bằng lời nói. Nó là cơ sở để ra quyết định ở cấp địa phương trong nông nghiệp, y tế, chế biến thực phẩm, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và một loạt các hoạt động khác trong cộng đồng nông thôn (Ashok Das Gupta, 2012; E. Ajani và CS, 2013). “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Những khái niệm liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu 2. Khái niệm thích ứng với biến đổi khí hậu Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng. Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó dùng trong rất nhiều trường hợp. Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại.
Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH. Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau. Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương.
Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH. Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng. Cây cối, động vật và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình. Cây cối, động vật và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới.
Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư. Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH. Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH. Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực.
[16] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.