CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Một số khái niệm liên quan - Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [6]. - Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [6].
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người, sinh vật (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [6]. - Ô nhiễm nguồn nước: là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Luật Tài nguyên Nước, 2012) [7]. - Suy thoái nguồn nước: là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó (Luật Tài nguyên Nước, 2012) [7]. - Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [6].
- Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, 2014) [6]. Một số chỉ tiêu ảnh hưởng đến quá trình nuôi trồng thủy sản a. Nhiệt độ Nhiệt độ có tác động đến các quá trình sinh hóa diễn ra trong nguồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hòa tan (Trịnh Lê Hùng, 2009) [5].
Tôm cá là các động vật biến nhiệt. Nhiệt độ ̣là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tôm cá như: hô hấp, tiêu thụ thức ăn, tăng cường miễn dịch đối với bệnh tật, sự tăng trưở ng… (Lê Thị Phượng, 2010) [10]. Độ pH Đó là thước đo tính axit hoặc bazo của dung dịch nước. Nhìn chung, sự tồn tại và phát triển tốt nhất trong điều kiện môi trường nước trung tính có pH = 7.
Tuy nhiên, sự sống vẫn chấp nhận một khoảng nhất định trên dưới giá trị trung tính (6 < pH , 8,5), đôi khi còn rộng hơn và cá biệt vẫn có những vi sinh vật sống được ở các pH cực tiểu (0 < pH < 1) và cực đại pH = 14. Trong tự nhiên luôn luôn tồn tại một hệ đệm, do vậy, sự thay đổi nồng độ axit (H+) hoặc bazo (OH-) đến một mức nào đó mới dẫn đến sự thay đổi pH (Trịnh Lê Hùng, 2009) [5]. Độ pH của môi trường ao nuôi ảnh hưởng khá lớn đến sự sinh trưởng của tôm cá. pH thấp có thể làm tổn thương phần phụ, mang, quá trình lột xác,… (Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2011) [13].
Độ mặn Độ mặn được tính dựa trên tổng nồng độ các ion hòa tan trong nước, có quan hệ mật thiết với đời sống của thủy sinh vật. Nhu cầu về độ mặn thay đổi tùy theo từng loại tôm cá và thời điểm trong chu trình sống của mỗi loại (Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2011) [13]. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước - DO Khi nuôi tôm cá, giữa mật độ tôm cá với hàm lượng oxy hòa tan có mối quan hệ qua lại với nhau. Oxy được tôm cá sử dụng vào quá trình hô hấp, đồng thời oxy được tiêu thụ làm phân hủy một lượng chất thải và thức ăn dư thừa của tôm cá.
Do đó, oxy là yếu tố quan trọng trong nước nuôi, hỗ trợ cho tôm cá phát triển (Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2011) [13]. 6 Nguồn oxy hòa tan trong nước chủ yếu được đưa vào từ không khí thông qua mặt thoáng của khối nước trao đổi với không khí. Ở nhiệt độ và áp suất bình thường, lượng oxy hòa tan trong nước nằm trong khoảng 8 – 15 mg/l. Trong môi trường có nhiều dinh dưỡng, các vi sinh vật hiếu khí hoạt động mạnh, cần tiêu thụ rất nhiều oxy nên lượng oxy hòa tan trong nước giảm đi rõ rệt.
Việc giảm lượng oxy hòa tan trong nước đã tạo điều kiện cho các vi khuẩn yếm khí hoạt động nên đã sinh nhiều các hợp chất có mùi xú uế. Như vậy, việc xác định chỉ tiêu DO có thể đánh giá được sơ bộ mức độ ô nhiễm của môi trường nước (Trịnh Lê Hùng, 2009) [5]. Nhu cầu oxy hóa học - COD Nhu cầu oxy hóa học (COD) là hàm lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ hòa tan trong mẫu nước bằng 2 chất oxy hóa mạnh là kali permanganate và kali bicromat trong môi trường axit mạnh. Chỉ số này được dùng để đánh giá một cách tương đối tổng hàm lượng của các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải.
Chỉ số COD càng cao, mức độ ô nhiễm càng nặng và ngược lại (Trịnh Lê Hùng, 2009) [5]. Nhu cầu oxy hóa sinh - BOD Việc đo lượng oxy hòa tan bị giảm trong môi trường kín sẽ xác định được chỉ số BOD. Thời gian cần cho quá trình này kéo dài nhiều ngày. Thường là 5 ngày (BOD5), 21 ngày (BOD21) hoặc dài hơn nữa.
Chỉ số BOD bao giờ cũng nhỏ hơn chỉ số COD, bởi vì không phải chất hữu cơ nào vi sinh vật cũng có thể sử dụng ngay được trong thời gian 5 ngày, 21 ngày. Nhu cầu oxy hóa sinh là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất hữu cơ có khả năng thoái biến sinh học trong mẫu nước thải bằng sự chuyển hóa hóa sinh hiếu khí (Trịnh Lê Hùng, 2009) [5]. Trong đầm nuôi trồng thủy sản, các thông số BOD, COD càng giảm càng tốt vì không phải tiêu thụ một lượng lớn oxy hòa tan (DO) trong nước để oxy hóa các chất cặn bã ở đáy đầm. Khi COD, BOD giảm thì DO trong nước tăng lên, làm cho nước đầm nuôi trồng thủy sản trong lành và sạch sẽ hơn (Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2011) [13].
Nito tổng số Trong nước, amoni thường tồn tại ở dạng NH3 và NH4+. Amôni ở dạng NH4+ không gây độc cho các loài thủy sinh vật trừ khi hàm lượng quá cao. NH3 là chất gây độc cho các loài thủy sinh vật, tuy nhiên NH3 chịu ảnh hưởng của pH , nhiệt độ và độ mặn. Nitrit (NO2- ) rất cần thiết cho hoạt động của thực vật phù du.
Dạng nitrit thường vô hại nhưng trong môi trường nước mà hàm lượng chlorinity thấp thì nitrit sẽ gây độc cho tôm cá. Nitrit gây độc cho tôm, cá vì chúng tạo thành chất methemoglobin làm giảm quá trình vận chuyển oxy tới tế bào. Nitrit cũng có thể kết hợp vớ i hợp chất mang gốc CN- và giải phóng gốc này ra khỏi phức chất xianua gây độc mạnh cho đầm nuôi. Nitrat (NO3- ) là sản phẩm của sự khoáng hóa các chất hữu cơ chứa nitơ, cần thiết cho sự phát triển của thực vật phù du.
Tuy nhiên, nếu hàm lượng nitrat trong đầm tôm cá vượt quá 7 mg/l thì môi trường bị phú dưỡng và bị nhiễm bẩn (Nguyễn Thị Quỳnh Trang, 2011) [13]. Một số phương pháp xử lý nước thải ao nuôi thủy sản a. Phương pháp xử lý cơ học (vật lý) Phương pháp này thường được ứng dụng ở giai đoạn đầu của quá trình xử lý. Nguyên vật liệu sử dụng là vật chắn, sử dụng hệ thống lắng và hệ thống lọc cơ học.
- Sử dụng vật chắn: Để loại bỏ những vật chất hữu cơ thô, rắn. - Sử dụng hệ thống lắng: Thường được sử dụng để tách các vật chất lơ lửng. Nguyên tắc dựa trên sự khác nhau về trọng lượng của các hạt vật chất lơ lửng. Quá trình này có thể loại bỏ 90 - 99% lượng cặn chứa trong nước.
- Sử dụng hệ thống lọc: Thường sử dụng để loại bỏ chất cặn lơ lửng còn sót lại trong nước sau công đoạn lắng, và những vật chất hữu cơ nhỏ đang trong công đoạn phân huỷ (Huỳnh Như, 2017) [20]. Phương pháp xử lý hóa lý Đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó, chất này phản ứng với các tập chất bẩn trong nước thải và có khả năng loại chúng ra khỏi nước thải dưới dạng cặn lắng hoặc dạng hòa tan không độc hại. Phương pháp này dựa trên cơ sở của quá trình hấp thụ, keo tụ, tách ly, trao đổi ion, bay hơi hay cô đặc để loại bỏ vật chất vô cơ và hữu cơ trong cả nước cấp và nước thải (Huỳnh Như, 2017) [20]. Phương pháp xử lý hóa học Sử dụng một số hoá chất đưa vào môi trường nước thải, những hoá chất này có thể tham gia oxy hoá, quá trình khử vật chất ô nhiễm hoặc trung hoà tạo chất kết tủa hoặc tham gia cơ chế phân hủy.
Phương pháp oxy hoá thường được sử dụng nhiều hơn, bởi vì các hoá chất có khả năng oxy hoá rất phổ biến trên thị trường. Trong quá trình oxy hoá, các chất gây ô nhiễm sẽ chuyển thành những chất ít ô nhiễm hơn và tách ra khỏi nước. Tuy nhiên, quá trình này thường tốn một lượng lớn hóa chất và khó định lượng liều lượng sử dụng và không phù hợp xu hướng phát triển ứng dụng công nghệ xanh trong tương lai. Do đó chỉ sử dụng trong những trường hợp khi các tạp chất gây ô nhiễm trong nước thải không thể tách bằng phương pháp khác.
Một trong những biện pháp hóa học được đánh giá cao hiện nay là phương pháp Purolite tốc độ cao trong xử lý nước thải thủy sản. Phương pháp xử lý cao phân tử xử lý các chất ô nhiễm lơ lửng hay hòa tan trong nước sau khi được xử lý bằng các hóa chất sẽ lắng xuống đáy và được loại ra ngoài. Trong nuôi trồng thủy sản, ozon là chất oxy hóa cực mạnh, được sử dụng để làm sạch nước, oxy hóa nitrit và các hợp chất hữu cơ hòa tan khó phân hủy, cũng như loại bỏ các chất rắn.