lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về sử dụng bền vững đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển vào sản xuất nông nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng sử dụng bền vững đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình. Chƣơng 3: Một số giải pháp sử dụng bền vững đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển vào sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và biến đổi khí hậu. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT BÃI BỒI VÀ ĐẤT CÓ MẶT NƢỚC VEN BIỂN VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về sử dụng bền vững đất bãi bồi và đất có mặt nƣớc vùng bãi bồi ven biển vào sản xuất nông nghiệp 1.
Khái niệm về đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển Đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển được hình thành do quá trình bồi tụ dưới sự tác động của rửa trôi và quá trình bồi lắng mà thành, trong đó có phần nhô lên và phần có lớp nước mặt nông có thể sử dụng vào sản xuất nông, lâm, thủy sản. Đất bãi bồi có thể là do sự di chuyển của đất từ đất liền, là tầng lớp đất mặt qua quá trình rửa trôi xuống các dòng sông sau đó lắng đọng và bồi tụ thành các bãi bồi ven biển hoặc có thể do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ như xác các động thực vật sinh sống ở các vùng ven biển lâu ngày mà thành. Đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển có nguồn gốc khác với đất đai thông thường. Nó là kết quả quá trình rửa trôi, bồi lắng có thể sau hàng chục năm hình thành các vùng đất mới, còn đất đai thông thường do quá trình phong hoá, dưới sự tác động của hàng loạt các yếu tố và phải trải qua hàng nghìn, hàng vạn năm mà thành.
Sự hình thành các vùng đất mới phần lớn là kết quả của sự huỷ hoại những vùng đất cũ mà thành và tốc độ hình thành các vùng đất mới thường nhanh hơn rất nhiều lần so với quá trình đất phong hoá. Từ đây, ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển là loại đất được hình thành do bồi tụ dưới sự tác động của quá trình rửa trôi và quá trình bồi lắng mà thành, trong đó đất bãi bồi là phần đất có sự tác động trực tiếp của biển và đất có mặt nước là phần đất ngập nông vùng ven biển. Thực tế, đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển có thể trở thành đất nội đồng vì trải qua thời gian, nhờ hoạt động của con người và tác động của tự nhiên, đất bãi 5 bồi và đất có mặt nước ven biển đã được cải tạo. Khi đó, sự tác động của biển và các yếu tố tự nhiên không còn ảnh hưởng mang tính chi phối đến chúng nữa.
Trong trường hợp đó, đất này được gọi là đất có nguồn gốc từ đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển. Đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển ở một vùng nào đó, ở thời điểm xem xét là đất được bồi tụ ở ven biển và đang chịu sự tác động trực tiếp của biển. Ở các vùng có đê biển thì đó là đất và mặt nước ở phía ngoài đê biển. Với các vùng không có đê biển, đó là đất bãi bồi và mặt nước trực tiếp ảnh hưởng bởi sự tác động của biển.
Vai trò của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển đối với sản xuất nông nghiệp và kinh tế, xã hội của địa phương Đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển là những vùng đất mới được hình thành sau so với các vùng đất khác. Đó là những vùng đất hoang hoá hoặc những vùng đất mới được đưa vào hoạt động. So với các loại đất khác, đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển có số lượng hạn hẹp hơn. Nhưng chúng có vai trò, vị trí không kém phần quan trọng so với những loại đất khác.
Vì vậy, vai trò của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển thay đổi theo thời gian, theo điều kiện khai thác. Cụ thể: Một là, đặc điểm của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển là những vùng đất hoang sơ nên khai thác rất khó khăn và phải tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để chống lại sự tác động tiêu cực của các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, khai thác nó cần phải đi từ khai phá tự nhiên đến tập trung khai thác và phải đi từ khai thác quảng canh đến khai thác thâm canh. Vai trò của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển phụ thuộc vào điều kiện khai thác và khi điều kiện khai thác càng cao thì vai trò của nó cũng tăng lên do tăng kết quả và hiệu quả trong khai thác và ngược lại.
Khi nguồn lực xã hội còn hạn chế, đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển chỉ được khai thác dưới dạng tự nhiên và chỉ khi nguồn lực xã hội lớn hơn nó mới được tập trung khai thác. Đặc biệt, trong điều kiện của sản xuất hàng hoá, khi lợi thế so sánh trong vấn đề sử dụng đất gắn với việc khai thác và khi vấn đề an toàn lương 6 thực đã được giải quyết căn bản thì tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản đối với vùng đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển đã tạo nên sự hấp dẫn mới về đầu tư. Thực tế cho thấy, quy mô và tốc độ khai thác đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển cho nuôi trồng thuỷ sản diễn ra hết sức nhanh chóng khi có điều kiện thuận lợi. Điều này được biểu hiện đậm nét trong quá trình khai thác đất bãi bồi và mặt nước ven biển và quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi ở các tỉnh ven biển, nhất là ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, miền Tây Nam Bộ ở nước ta trong những năm gần đây.
Hai là, đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển có sự biểu hiện khác nhau về thời điểm khai thác. Cụ thể: Quá trình đô thị hoá làm cho quỹ đất phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, trong khi nguồn lao động cho ngành này ngày càng tăng do tỷ lệ tăng tự nhiên. Do đó, việc khai phá thêm các vùng đất mới, bao gồm đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển là yêu cầu rất cần thiết và cấp bách. Theo thời gian, vị trí và vai trò của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển ngày càng quan trọng.
Ở nước ta những năm trước đây, khi nguồn lực hạn hẹp việc khai thác những vùng đất ven biển được thực hiện dưới hình thức tự nhiên nên năng suất thấp. Trong những năm đổi mới, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, nhờ nguồn lực đầu tư tăng, việc khai thác đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển chuyển sang các hình thức đầu tư thâm canh cho năng suất và hiệu quả tăng cao. Ba là, vai trò và vị trí của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển thay đổi khi điều kiện và mục tiêu của khai thác khác thay đổi. Điều kiện và mục tiêu khai thác đất đai thường thống nhất với nhau, nó ảnh hưởng quan trọng đến kết quả và hiệu quả của khai thác và sử dụng đất đai.
Thực tế, khi điều kiện xã hội còn hạn chế, mục tiêu khai thác nhằm giải quyết vấn đề lương thực là chủ yếu thì vai trò của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển biểu hiện một cách mờ nhạt. Nhưng khi mục tiêu khai thác thay đổi, từ sản xuất lương thực chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản thì vị trí của vùng đất này được thay đổi và thể hiện được vai trò quan trọng của nó, đó là tạo khối lượng nông sản 7 có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào giải quyết các vấn đề xã hội như tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn an ninh xã hội và góp phần xây dựng nông thôn mới. Đặc điểm của đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển Thứ nhất, đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biên là vùng đất có cấu tạo địa chất yếu, vì nó được hình thành ở ven các cửa sông lớn vùng ven biển. Nó thường phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên và tạo nên những tác động bất thường.
Điều này làm cho việc đầu tư khai thác tốn kém và rất khó khăn, đặc biệt là việc xây dựng các cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi. Để làm được việc đó, thì vai trò của quản lý nhà nước đối với vùng đất bãi bồi ven biển có ý nghĩa quyết định. Trong đó, Nhà nước cần thực hiện điều tra đánh giá tiềm năng, lợi thế đến tạo lập môi trường kinh tế, pháp lý, đặc biệt là là đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vốn,… để thu hút các nhà đầu tư. Thứ hai, đất bãi bồi và đất có mặt nước ở vùng ven biển có tiềm năng rất lớn trong khai thác, nhất là khai thác nuôi trồng thuỷ sản vì nó có hàm lượng các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất hữu cơ rất cao.
Đất có mặt nước ven biển là đất bị ngập nước ở mức độ nông có thể khai thác nuôi trồng các loại thuỷ sản. Nhưng sự tác động của thiên nhiên như chế độ thủy triều, nhiệt độ, thời tiết có ảnh hưởng rất lớn đến khai thác mặt nước ven biển. Để khai thác và quản lý mặt nước ven biển có hiệu quả cần phải hiểu rõ sự tác động của các nhân tố này. Cụ thể, phải có sự kết hợp tổng hợp giữa các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý trong khai thác đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển.
Khi đó, việc khai thác đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển mới đem lại hiệu quả cao và bền vững. Thứ ba, việc khai thác kinh tế và tổ chức các vấn đề xã hội ở vùng đất bãi bồi và đất có mặt nước ven biển còn nhiều khó khăn vì đây là những vùng đất hoang hóa.