mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74o 20’-25o độ vĩ bắc và 102o 30’ độ kinh đông và cho ra nhiều nhận định có giá trị. Từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” do H.Lecomte chủ biên năm (1907 - 1952) [63].
Trong công trình này, các tác giả ngƣời Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dƣơng. Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xƣớng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch nghĩa là chƣa đầy 20% tổng số họ đã có. Bên cạnh đó, còn rất nhiều những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lƣợt đƣợc xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã đƣợc tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phƣơng pháp luận cũng nhƣ thông báo các kết quả đã đạt đƣợc trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới.
Các kết quả nghiên cứu đƣợc công bố trong các báo cáo và hội nghị, hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia. Tình hình nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu ĐDSH là kết quả điều tra về tài nguyên thực vật và động vật ở một số VQG và KBTTN và một số sinh cảnh khác ngoài KBTTN nhờ sự phối hợp giữa các nhà khoa học của các cơ quan nghiên cứu ở trung ƣơng, địa phƣơng và ban quản lý VQG, KBTTN. Có thể dẫn ra một số ví dụ điển hình: 5 - Ở KBTTN Hoàng Liên Sơn Sa Pa đã điều tra đƣợc 464 loài thực vật thuộc 159 họ, trong đó có 8 loài mới và 65 loài quí hiếm (Frontier, 1994); - VQG Tam Đảo đã điều tra đƣợc 1282 loài thực vật thuộc 179 họ với 2 kiểu rừng chính là rừng kín thƣờng xanh mƣa mùa nhiệt đới (Cao < 700m) và rừng kín thƣờng xanh mƣa mùa á nhiệt đới núi thấp (700-1500m) (VQG Tam Đảo, 2000); - VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê đƣợc trên 800 loài thực vật trong đó có 26 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. - KBTTN Kong Ka Kinh: Kết quả khảo sát bƣớc đầu đã ghi nhận 652 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 132 họ, có 10 loài đặc hữu, 34 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
- VQG Cát Tiên đã ghi nhận 1366 loài thực vật bậc cao thuộc 151 họ, có 39 loài quí hiếm; nguồn gen đặc hữu và cây bản địa có 22 loài. - KBTTN Bình Châu Phƣớc Bửu. Đã định tên 732 loài thực vật thuộc 123 họ, trong đó 17 loài quí hiếm. Xác định chỉ có 1 kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới (Cảnh và cs, 2000); Các nghiên cứu ĐDSH thƣờng đƣợc bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế-kĩ thuật (LCKT) cho các khu bảo tồn (Vũ Tiến Hinh, 2002).
Phần lớn LCKT đƣợc xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn nhƣ Viện Điều tra Qui hoạch rừng Hà Nội (kể cả các phân viện), Viện Khoa học Lâm nghiệp Hà Nội, Trƣờng đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai- Hà Tây), Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc các cơ quan nghiên cứu kể trên cùng tham gia xây dựng. Ngoài các nghiên cứu liên quan đến LCKT còn phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nƣớc nhƣ: - Ở miền Bắc có các nghiên cứu của Hội khảo cứu môi trƣờng (Frontier) về động thực vật khu vực Hoàng Liên; nghiên cứu của Hội Bảo vệ chim quốc tế (Birdlife International) ở VQG Ba Bể và vùng phụ cận: nghiên cứu về thú linh trƣởng ở VQG Ba bể, KBTTN Na Hang và VQG Cát Bà của trƣờng Đại học Lâm nghiệp; các nghiên cứu về pơ mu, lâm sản ngoài gỗ (Viện Khoa học Lâm 6 nghiệp), nghiên cứu về cúc, lan hài, cây có ích, voọc mũi hếch của viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Hà Nội, các nghiên cứu về trà, rêu, côn trùng. của đại học Quốc gia Hà Nội, cây thuốc của Viện Dƣợc liệu. - Khu vực biển miền Trung đã đƣợc các nhà khoa học của trƣờng Đại học Lâm nghiệp, viện Điều tra Quy hoạch rừng, bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, ĐHQGHN, Đại học Huế, VQG Bạch Mã, các chuyên gia dự án WWF/EC (VN 001201), trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới Nga-Việt, Đại học Vinh quan tâm nghiên cứu.
Các đối tƣợng nghiên cứu bao hàm phần lớn các nội dung của ĐDSH. Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào một số đối tƣợng là các loài thực vật đặc hữu của KBTTN Pù Mát, KBTTN Vũ Quang, VQG Bạch Mã, KBTTN Phong Nha- Kẻ Bàng, KBTTN Phong Điền nhƣ các loài cây thuốc. - Miền Nam là khu vực có nhiều nghiên cứu của Phân Viện Điều tra Quy hoạch rừng II, Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Hồ Chí Minh, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật với các đối tƣợng nghiên cứu khá đa dạng.
Những mặt yếu về nghiên cứu ĐDSH Do thiếu kinh phí của nhà nƣớc hoặc chỉ đƣợc một số tổ chức quốc tế hỗ trợ có một lần, nên thiếu các số liệu chính xác, cập nhật, nhiều VQG và KBTTN chỉ có số liệu khi xây dựng luận chứng KHKT. Có nhiều loài thực vật chƣa có tên trong danh lục song mặt khác có thể có một số loài thực vật đã đƣợc ghi trong danh lục nhƣng thực tế không còn. Nhìn chung chất lƣợng số liệu điều tra của các khu bảo vệ chƣa đạt yêu cầu so với thực tế hiện có, cần phải đƣợc đánh gía lại hiện trƣờng (Vũ Tiến Hinh, 2002). - Ở nhiều khu bảo vệ do thời gian khảo sát ngắn, phạm vi khảo sát hạn hẹp nên chƣa phản ánh đầy đủ tính ĐDSH của cả khu vực.
- Một số nghiên cứu mang tính độc lập, không có sự kế thừa hoặc có khi chồng chéo, trùng lặp - Tính khoa học có khi chƣa cao do thiếu tài liệu định loại 7 - Hoạt động nghiên cứu của ĐDSH mang tính tự phát ở các VQG, KBTTN không có dự án nƣớc ngoài tài trợ. Ngƣợc lại nơi có tài trợ lại lệ thuộc vào cố vấn hoặc cơ quan trúng thầu nên bị động. Trong tóm tắt báo cáo "Đánh giá việc thực hiện BAP từ 1995 đến 2002" của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng có rút ra những mặt còn yếu cần khắc phục (13 vấn đề), trong đó có 1 điểm nhận định rất đáng quan tâm: "Công tác nghiên cứu khoa học về ĐDSH chƣa có hệ thống. Nhiều biện pháp bảo tồn đƣợc đề xuất nhƣng chƣa đủ căn cứ khoa học và thực tế.
Cán bộ khoa học về ĐDSH vừa yếu về chuyên môn, thiếu về số lƣợng. Cơ sở vật chất và đầu tƣ cho các hoạt động này quá ít." Bên cạnh các nhƣợc điểm trên có một nội dung quan trọng đối với công tác bảo tồn là phải điều tra giám sát (ĐTGS) ĐDSH. ĐTGS ĐDSH là các hoạt động nhằm theo dõi quá trình biến động của các tài nguyên sinh vật theo thời gian và những nguyên nhân ảnh hƣởng đến quá trình đó. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần nghiên cứu cho các vùng cảnh quan tự nhiên mà trƣớc hết là VQG và KBTTN.
Cho đến nay ở nƣớc ta chƣa có VQG, KBTTN hoặc một cơ quan nào thực hiện ĐTGS ĐDSH. Đó là một trong những nguyên nhân hạn chế tính hiệu quả của công tác quản lý ĐDSH ở các VQG, KBTTN do chƣa nắm chắc nguồn tài nguyên, xu hƣớng biến đổi của nó và nguyên nhân ảnh hƣởng (Vũ Tiến Hinh, 2002). Dựa vào yêu cầu của văn phòng dự án SPAM (Dự án tăng cƣờng công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam), một nhóm các nhà khoa học đã thực hiện hoạt động tƣ vấn "Nhu cầu điều tra, giám sát và bảo tồn ĐDSH ở các khu rừng đặc dụng Việt Nam từ 26/7 đến 26/10/2001", mục đích là nghiên cứu đề xuất phƣơng pháp và những hành động cụ thể nhằm tăng cƣờng năng lực chuyên môn để thực hiện các hoạt động điều tra giám sát, thu thập chia sẻ các thông tin ĐDSH ở các khu bảo vệ của Việt Nam. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn ở Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng Với đặc trƣng là rừng mƣa nhiệt đới, xanh quanh năm, Cúc Phƣơng có quần hệ động thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, theo số liệu điều tra gần 8 đây Cúc Phƣơng có 2234 loài thực vật bậc cao và Rêu, trong đó có 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn đƣợc, nhiều loài đƣợc ghi trong sách đỏ của Việt Nam.
Là một Vƣờn Quốc Gia giàu tính đa dạng sinh học, Cúc Phƣơng có 19 quần xã thực vật, trên 2234 loài thực vật bậc cao và Rêu đƣợc phân bố trong 231 họ, 917 chi. Xác định việc nghiên cứu khoa học phục vụ công tác quản lý, bảo tồn các loài động, thực vật quý hiếm là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất, Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng đã tiến hành điều tra cơ bản về khu thực vật của Vƣờn để xây dựng định hƣớng bảo vệ, bảo tồn và phát triển; nghiên cứu về quần thể một số loài có nguy cơ tuyệt chủng, phạm vi phân bố, số lƣợng để đề xuất phƣơng án bảo vệ tốt nhất; nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái bị phá vỡ do khai thác quá mức; nghiên cứu bảo tồn phát triển một số loài thực vật quý hiếm và có giá trị kinh tế cao… Nhờ đó, nhiều loài thực vật quý hiếm đã đƣợc bảo tồn, phát triển tốt, đáp ứng yêu cầu bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế. Để sƣu tập gây giống các loài cây quý hiếm phục vụ lƣu giữ nguồn gen, Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng đã xây dựng một vƣờn cây thực vật với diện tích 180 ha, sƣu tập trồng đƣợc 811 loài cây.