Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phẫu thuật cắt cụt chi thể là một can thiệp ngoại khoa xâm lấn nhằm loại bỏ một phần hoặc toàn bộ chi thể tổn thương không thể bảo tồn. Sau can thiệp, người bệnh phải đối diện với tình trạng suy giảm hoặc mất hoàn toàn chức năng vận động, biến đổi ngoại hình cùng nhiều tổn thương thể chất và tâm lý kéo dài. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2012, các rối loạn tâm thần phổ biến bao gồm trầm cảm, lo âu và căng thẳng (stress), trong đó stress là phản ứng thường gặp nhất khi cá nhân phải đương đầu với các biến cố sang chấn cấp tính hoặc bệnh tật mạn tính. Ước tính đến năm 2030, rối loạn tâm thần sẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu cấu thành gánh nặng bệnh tật toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc trầm cảm và rối loạn lo âu trong dân số chung lần lượt là 4% và 2,2%.
Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận nguy cơ stress ở bệnh nhân cắt cụt chi luôn ở mức cao: Aaron Bolduc và cộng sự báo cáo tỷ lệ stress sau cắt cụt chi là 19,25%; nghiên cứu trên 429 quân nhân Hoa Kỳ phải cắt cụt chi sau chiến tranh tại Iraq và Afghanistan ghi nhận tỷ lệ stress là 16,8%. Tại Việt Nam, thực hành lâm sàng ngoại khoa chủ yếu tập trung vào điều trị tổn thương thực thể và phục hồi chức năng thể chất, trong khi sức khỏe tâm thần của người bệnh sau phẫu thuật cắt cụt chi thể chưa được quan tâm và sàng lọc thích đáng, đồng thời còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu định lượng chuyên sâu về vấn đề này.
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa của tác giả Vũ Minh Hiếu (Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2023) thực hiện đề tài "Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân cắt cụt chi tại Bệnh viện Việt Đức năm 2023" nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng stress ở bệnh nhân cắt cụt chi tại Bệnh viện Việt Đức năm 2023.
- Mô tả một số yếu tố liên quan đến stress ở bệnh nhân cắt cụt chi tại Bệnh viện Việt Đức năm 2023.
Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật cắt một phần hoặc toàn bộ chi thể, đồng ý tham gia nghiên cứu và có đủ năng lực trả lời phỏng vấn; loại trừ các trường hợp đã hoặc đang điều trị bệnh lý tâm thần trước thời điểm phẫu thuật. Nghiên cứu được triển khai tại Khoa Phẫu thuật Chi trên và Y học thể thao thuộc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong khung thời gian từ tháng 4 năm 2023 đến tháng 5 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các mốc phát triển khái niệm về stress trong y học và sinh lý học. Thuật ngữ stress được Walter Cannon sử dụng lần đầu năm 1914 khi nghiên cứu về cân bằng nội môi và hệ thần kinh thực vật. Năm 1950, Hans Selye định nghĩa stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước các tác nhân kích thích. Tại Việt Nam, tác giả Tô Như Khuê định nghĩa stress là phản ứng tâm lý không đặc hiệu đối với các tình huống bất lợi hoặc đe dọa dựa trên sự đánh giá chủ quan của cá nhân. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhìn nhận stress là phản ứng thích ứng sinh thái trước các biến cố gây mất cảm giác an toàn và kiểm soát. Tác giả khóa luận lựa chọn định nghĩa của Trường Y khoa Harvard làm khung tham chiếu chính: stress là trạng thái tâm lý và phản ứng sinh học của cơ thể trước áp lực căng thẳng bên trong hoặc bên ngoài, kích hoạt giải phóng các hormone như cortisol và adrenaline, làm tăng nhịp tim, nhịp thở và huyết áp.
Về mặt công cụ đo lường, nghiên cứu sử dụng thang đo trầm cảm, lo âu và căng thẳng phiên bản rút gọn DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scales 21 items) do Augustine Osman và cộng sự phát triển năm 1997 từ thang DASS-42 của S.F. Lovibond (Đại học New South Wales, Úc). Thang DASS-21 gồm 21 câu hỏi tự điền hoặc phỏng vấn, chia đều cho 3 phân hệ: Trầm cảm (D), Lo âu (A) và Căng thẳng/Stress (S). Mỗi câu có 4 mức điểm từ 0 (không đúng với tôi chút nào) đến 3 (hoàn toàn đúng với tôi). Điểm từng phân hệ được tính bằng tổng điểm 7 câu tương ứng nhân hệ số 2 (thang điểm quy đổi 0 - 42). Phân loại mức độ stress theo DASS-21 bao gồm:
- Bình thường: 0 – 14 điểm.
- Nhẹ: 15 – 18 điểm.
- Vừa: 19 – 25 điểm.
- Nặng: 26 – 33 điểm.
- Rất nặng: ≥ 34 điểm.
Thang đo DASS-21 có độ tin cậy nội tại cao (Cronbach's alpha đạt 0,90 – 0,95) và đã được chuẩn hóa tại miền Bắc Việt Nam với hệ số tương quan 0,77. Trong phạm vi khóa luận, tác giả chỉ sử dụng phân hệ Stress (S) nhằm mục đích sàng lọc cắt ngang tình trạng căng thẳng cấp tính trong thời gian người bệnh nằm viện nội trú, không sử dụng như công cụ chẩn đoán xác định bệnh lý tâm thần theo Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10).
Phương pháp nghiên cứu được thiết kế theo mô hình nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện, thu thập toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia trong thời gian nghiên cứu, đạt cỡ mẫu n = 48 bệnh nhân.
Nguồn dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc kết hợp thang đo DASS-21. Các nhóm biến số thu thập gồm: đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới tính, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, tình trạng hôn nhân); đặc điểm lâm sàng cắt cụt chi (nguyên nhân vào viện, tiền sử bệnh tật, vị trí mỏm cụt, mức độ hạn chế vận động, triệu chứng đau và dị cảm, thời gian nằm viện, mức độ hài lòng dịch vụ y tế); và đặc điểm tâm lý cá nhân.
Số liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS. Các biến định tính được mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm (%). Các biến định lượng được tính giá trị trung bình ($\bar{X}$) và độ lệch chuẩn (SD). Phân tích so sánh tỷ lệ sử dụng kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$), so sánh giá trị trung bình bằng kiểm định T-student hoặc ANOVA; xác định mối liên quan tuyến tính qua hệ số tương quan với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại giá trị p < 0,05. Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức y sinh học: đối tượng được giải thích mục đích, tự nguyện tham gia, thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối và dữ liệu chỉ phục vụ mục đích khoa học.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Đại cương về cắt cụt chi thể
Chương này tổng quan về định nghĩa phẫu thuật cắt cụt chi thể: thủ thuật cắt qua xương gọi là cắt cụt thực thụ, cắt ngang qua khe khớp gọi là tháo khớp. Tác giả thống kê dịch tễ học quốc tế: Hoa Kỳ có khoảng 1,6 triệu người sống chung với tình trạng cắt cụt chi (chiếm 0,52% dân số, trong đó 65% gặp vấn đề sức khỏe tâm thần); tại Anh có 27.000 ca/năm (hơn 75% là nam giới, 40% do tai nạn giao thông); tại Úc có khoảng 10.000 ca/năm (hơn 80% là nam giới, 50% do tai nạn giao thông). Nguyên nhân cắt cụt chủ yếu gồm chấn thương đụng dập/đứt lìa không thể bảo tồn (chiếm khoảng 75% theo thống kê không chính thức), bệnh lý tắc mạch mạn tính do đái tháo đường hoặc xơ vữa động mạch, và phẫu thuật loại bỏ dị tật hoặc khối u ác tính. Các biến chứng hậu phẫu người bệnh phải đối mặt bao gồm: chảy máu mỏm cụt, nhiễm trùng vết mổ, co rút teo cơ, đau cấp tính hoặc mạn tính (CDC Hoa Kỳ ghi nhận 50 - 80% bệnh nhân đau sau phẫu thuật, 5 - 10% đau nghiêm trọng trên 2 tháng), suy giảm khả năng vận động và các sang chấn tâm lý kéo dài. Chương này cũng phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu về sức khỏe tâm thần hậu cắt cụt chi của các tác giả Anamika Sahu (Ấn Độ, tỷ lệ rối loạn tâm thần 32 - 84%), Cem Copuroglu (Thổ Nhĩ Kỳ, 36,3% rối loạn tâm thần giai đoạn đầu và 77,2% stress cấp tính sau 6 tháng), Mohammed Alessa (Ả Rập Xê Út) và giới thiệu lịch sử hình thành, năng lực ngoại khoa chuyên sâu của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương phương pháp xác lập địa điểm nghiên cứu tại Khoa Phẫu thuật Chi trên và Y học thể thao - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023 trên 48 bệnh nhân sau phẫu thuật cắt cụt chi. Chương này trình bày chi tiết sơ đồ quy trình nghiên cứu từ khâu sàng lọc theo tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ, phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi thu thập thông tin kết hợp thang đo DASS-21, đến quy trình làm sạch và phân tích số liệu trên phần mềm SPSS bằng các thuật toán thống kê y học ($\chi^2$, T-test, ANOVA, phân tích tương quan tuyến tính Pearson) và cam kết thực hiện đúng các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học.
Kết quả nghiên cứu
Chương kết quả thể hiện toàn bộ số liệu thu thập được từ 48 bệnh nhân thông qua hệ thống bảng và biểu đồ thống kê:
- Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: Nam giới chiếm 69,0% (33/48), nữ giới chiếm 31,0% (15/48), tỷ lệ nam/nữ xấp xỉ 2:1. Độ tuổi trung bình là 39,63 ± 15,37 tuổi (dao động từ 16 đến 72 tuổi); nhóm tuổi lao động (18 – 60 tuổi) chiếm đa số với 85,4% (41 bệnh nhân), nhóm dưới 18 tuổi chiếm 10,4% (5 bệnh nhân) và trên 60 tuổi chiếm 4,2% (2 bệnh nhân). Về nghề nghiệp, lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,8%, lao động trí óc chiếm 31,1%, lao động tự do chiếm 18,8%, thất nghiệp chiếm 4,2% và hưu trí chiếm 2,1%. Về tình trạng hôn nhân, 54,2% đã kết hôn, 22,9% độc thân, 12,5% ly hôn/ly thân và 10,4% góa bụa. Thu nhập khá giả (>10 triệu đồng/tháng) chiếm 54,4%, trung bình (5 – 10 triệu đồng/tháng) chiếm 37,7%, và khó khăn (<5 triệu đồng/tháng) chiếm 8,3%.
- Đặc điểm tổn thương và hậu phẫu: Nguyên nhân vào viện hàng đầu là tai nạn giao thông chiếm 52,1% (25 ca), tai nạn lao động chiếm 35,4%, tai nạn sinh hoạt chiếm 10,4% và bệnh lý mạch máu chiếm 2,1%. Vị trí làm mỏm cụt tập trung ở các khớp nhỏ (ngón tay, ngón chân) chiếm 45,8%, khớp nhỡ (cổ tay, cổ chân) chiếm 39,6%, khớp lớn (gối, vai, háng, đùi, cánh tay) chiếm 14,6%. Hạn chế vận động: 43,7% gặp khó khăn sinh hoạt đi lại, 35,4% phụ thuộc dụng cụ hỗ trợ, 6,3% phụ thuộc hoàn toàn vào người khác chăm sóc, 14,6% không bị ảnh hưởng. Đau sau phẫu thuật xuất hiện ở 58,3% người bệnh, tê bì dị cảm ở 29,2% và 18,8% không có triệu chứng. Thời gian nằm viện trung bình là 4,35 ± 1,95 ngày (từ 1 đến 10 ngày), trong đó nằm viện 4 – 5 ngày chiếm 50,0%. Mức độ hài lòng với dịch vụ y tế đạt 66,7%.
- Đặc điểm tâm lý và tỷ lệ stress: 79,2% bệnh nhân có tâm lý tức giận, không chấp nhận việc bị cắt cụt chi; 58,3% có cảm giác lo sợ chung. Các mối bận tâm lớn nhất gồm: lo sợ ảnh hưởng quan hệ tình dục (64,6%), lo ảnh hưởng công việc hoặc mất việc (62,5%), sợ trở thành gánh nặng cho gia đình (56,3%), lo ngại về ngoại hình (54,2%), sức khỏe giảm sút (54,2%) và sợ bị xã hội phân biệt đối xử (43,8%). Điểm DASS-21 phân hệ stress trung bình là 8,92 ± 6,78 điểm (từ 0 đến 28 điểm). Tỷ lệ stress chung ở bệnh nhân cắt cụt chi là 16,7% (8/48 ca), trong đó mức độ nhẹ chiếm 10,4%, mức độ vừa chiếm 4,2%, mức độ nặng chiếm 2,1% và không có trường hợp nào stress rất nặng.
Bàn luận
Tác giả so sánh các phát hiện với y văn trong nước và quốc tế. Tỷ lệ stress 16,7% trong nghiên cứu tương đương với nghiên cứu trên quân nhân Hoa Kỳ của tác giả điều tra (16,8%), thấp hơn nghiên cứu của Aaron Bolduc (19,25%) và Cem Copuroglu tại Thổ Nhĩ Kỳ (36,3%). Sự khác biệt này được giải thích do cỡ mẫu nghiên cứu tại Việt Đức còn nhỏ (n = 48) và thời điểm khảo sát diễn ra ngay trong giai đoạn nằm viện cấp tính ngắn ngày (trung bình 4,35 ngày). Chương bàn luận phân tích sâu nguyên nhân nam giới chiếm đa số do đặc thù tham gia giao thông và lao động nặng, đồng thời làm rõ cơ chế mà sự tổn thất chi thể tác động tiêu cực đến hình ảnh bản thân, chức năng sinh hoạt và sinh kế của người bệnh.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh số liệu định lượng cụ thể về thực trạng stress và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan trực tiếp đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân sau phẫu thuật cắt cụt chi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2023.
| Nhóm yếu tố nghiên cứu |
Phân loại biến số |
Tỷ lệ stress (%) |
Giá trị p |
Ý nghĩa thống kê |
| Giới tính |
Nữ giới Nam giới |
20,0% (vừa: 13,3%; nặng: 6,7%) 15,2% (chỉ ở mức nhẹ) |
p = 0,031 |
Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) |
| Vị trí làm mỏm cụt |
Khớp lớn Khớp nhỡ Khớp nhỏ |
57,2% (nhe: 28,6%; vừa: 14,3%; nặng: 14,3%) 21,1% (nhẹ: 15,8%; vừa: 5,3%) 0,0% |
p = 0,015 |
Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) |
| Mức độ hạn chế vận động |
Phụ thuộc người khác Phụ thuộc dụng cụ Hạn chế một phần Không hạn chế |
100,0% (chia đều nhẹ, vừa, nặng) 17,6% (nhẹ: 17,6%) 9,6% (nhẹ: 4,8%; vừa: 4,8%) 0,0% |
p = 0,010 |
Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) |
| Thời gian nằm viện |
> 7 ngày 4 – 5 ngày ≤ 3 ngày 6 – 7 ngày |
33,3% (nặng: 33,3%) 20,9% (nhẹ: 16,7%; vừa: 4,2%) 14,2% (nhẹ: 7,1%; vừa: 7,1%) 0,0% |
p = 0,033 |
Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) |
| Tiền sử bệnh lý |
Không có tiền sử bệnh Có tiền sử bệnh |
19,0% (nhẹ: 11,9%; vừa: 4,7%; nặng: 2,4%) 0,0% |
p = 0,031 |
Có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) |
| Độ tuổi |
< 18 tuổi 18 – 60 tuổi > 60 tuổi |
20,0% 17,1% 0,0% |
p = 0,974 |
Không có ý nghĩa (p > 0,05) |
| Tình trạng hôn nhân |
Độc thân Đã kết hôn Ly hôn/Góa |
36,4% 15,4% 0,0% |
p = 0,833 |
Không có ý nghĩa (p > 0,05) |
| Điều kiện kinh tế |
Trung bình Khá giả Khó khăn |
27,8% 11,5% 0,0% |
p = 0,720 |
Không có ý nghĩa (p > 0,05) |
| Mức độ hài lòng y tế |
Bình thường Hài lòng/Rất hài lòng |
30,0% 16,0% |
p = 0,896 |
Không có ý nghĩa (p > 0,05) |
| Triệu chứng đau sau mổ |
Có đau Không triệu chứng Tê bì, dị cảm |
21,5% 22,2% 7,1% |
p = 0,589 p = 0,083 p = 0,137 |
Không có ý nghĩa (p > 0,05) |
Về mặt đóng góp khoa học, đây là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam và tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đánh giá trực tiếp thực trạng rối loạn căng thẳng ở bệnh nhân phẫu thuật cắt cụt chi bằng thang đo chuẩn hóa quốc tế DASS-21. Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ can thiệp giải phẫu (vị trí cắt cụt qua các khớp lớn), sự suy giảm tính tự chủ trong vận động và thời gian điều trị nội trú kéo dài với nguy cơ xuất hiện stress mức độ vừa đến nặng.
Về mặt giải pháp, từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các cơ sở điều trị ngoại khoa chấn thương cần thiết lập quy trình theo dõi, phối hợp liên chuyên khoa giữa bác sĩ phẫu thuật ngoại khoa với bác sĩ tâm thần và chuyên viên tâm lý lâm sàng. Việc sàng lọc tâm lý sớm cần được ưu tiên đặc biệt cho các đối tượng nguy cơ cao: bệnh nhân nữ, người bị cắt cụt ở vị trí khớp lớn, người phụ thuộc vận động vào người khác và bệnh nhân có thời gian nằm viện kéo dài trên 7 ngày, nhằm hỗ trợ tâm lý kịp thời, giúp người bệnh thích nghi với biến cố mất chi thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế nội tại trong quá trình thực hiện:
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang chỉ phản ánh tình trạng tâm lý của bệnh nhân tại một thời điểm nhất định trong giai đoạn nằm viện cấp tính sau phẫu thuật (thời gian nằm viện trung bình 4,35 ngày), chưa theo dõi được diễn tiến tâm lý lâu dài khi người bệnh trở về tái hòa nhập cộng đồng.
- Cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ (n = 48 bệnh nhân, trong đó chỉ có 8 trường hợp ghi nhận có stress), được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một khoa lâm sàng duy nhất (Khoa Phẫu thuật Chi trên và Y học thể thao), dẫn đến việc phân tích một số biến số xã hội học (tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, độ tuổi) chưa đạt đủ sức mạnh thống kê để khẳng định mối liên quan (p > 0,05).
- Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích phân hệ Stress (S) của thang đo DASS-21 mà chưa mở rộng khảo sát hai cấu phần còn lại là Lo âu (Anxiety) và Trầm cảm (Depression), do giới hạn thời gian và khó khăn trong việc tiếp cận người bệnh tại buồng bệnh ngoại khoa cấp tính.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu trên phạm vi nhiều trung tâm chấn thương chỉnh hình, triển khai các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc (longitudinal study) đánh giá sức khỏe tâm thần ở các mốc thời gian sau xuất viện (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm), kết hợp đánh giá đầy đủ cả ba khía cạnh stress, lo âu, trầm cảm và đối chiếu với tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng ICD-10.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Minh Hiếu là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Bác sĩ ngoại khoa chấn thương chỉnh hình và điều dưỡng lâm sàng tại các khoa phẫu thuật: cung cấp cái nhìn thực chứng về các sang chấn tâm lý và mối lo ngại thường gặp của người bệnh (đặc biệt là nỗi lo về tình dục, mất việc làm, gánh nặng gia đình) bên cạnh các chăm sóc vết mổ và phục hồi chức năng thể chất.
- Bác sĩ, học viên chuyên khoa Tâm thần và Tâm lý học lâm sàng: tài liệu minh chứng cho việc ứng dụng thang đo rút gọn DASS-21 trong sàng lọc nhanh sức khỏe tâm thần tại môi trường bệnh viện đa khoa/ngoại khoa tuyến trung ương.
- Sinh viên y đa khoa, học viên sau đại học ngành Y tế công cộng và Ngoại khoa: tham khảo cấu trúc thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, cách xây dựng biến số dịch tễ học lâm sàng, quy trình xử lý số liệu y học bằng SPSS và cách lập luận bàn luận các chỉ số kiểm định giả thuyết thống kê ($\chi^2$, ANOVA, Pearson).
- Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản là hệ thống số liệu chi tiết tại Chương 3 và Chương 4 về mối tương quan giữa vị trí cắt cụt chi thể, mức độ phụ thuộc vận động với điểm số phân loại stress DASS-21.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ stress chung ở bệnh nhân cắt cụt chi trong nghiên cứu là bao nhiêu và phân bố theo các mức độ như thế nào?
Theo kết quả nghiên cứu trên 48 bệnh nhân tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2023, tỷ lệ stress chung được xác định qua thang đo DASS-21 là 16,7% (8/48 bệnh nhân). Phân bố theo các mức độ gồm: mức độ nhẹ chiếm 10,4% (5 bệnh nhân), mức độ vừa chiếm 4,2% (2 bệnh nhân), mức độ nặng chiếm 2,1% (1 bệnh nhân). Không có trường hợp nào ghi nhận stress ở mức độ rất nặng. Điểm DASS-21 trung bình của phân hệ stress là 8,92 ± 6,78 điểm (dao động từ 0 đến 28 điểm).
2. Những yếu tố nào có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với tình trạng stress của người bệnh?
Nghiên cứu ghi nhận 5 yếu tố có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với tình trạng stress:
- Giới tính: Bệnh nhân nữ có tỷ lệ stress cao hơn nam giới (20,0% so với 15,2%) và mức độ stress ở nữ nặng hơn (13,3% vừa, 6,7% nặng; trong khi nam giới chỉ bị mức độ nhẹ), với p = 0,031.
- Vị trí làm mỏm cụt: Tỷ lệ stress tăng dần theo độ lớn của khớp bị cắt cụt: khớp lớn là 57,2%, khớp nhỡ là 21,1% và khớp nhỏ là 0%, với p = 0,015.
- Mức độ hạn chế vận động: Bệnh nhân phụ thuộc hoàn toàn vào người khác có tỷ lệ stress là 100,0%, phụ thuộc dụng cụ là 17,6%, hạn chế một phần là 9,6% và không hạn chế là 0%, với p = 0,010.
- Thời gian nằm viện: Bệnh nhân nằm viện trên 7 ngày có tỷ lệ stress 33,3%, nằm viện 4 – 5 ngày là 20,9%, nằm viện ≤ 3 ngày là 14,2%, với p = 0,033.
- Tiền sử bệnh tật: Tỷ lệ stress ở nhóm không có tiền sử bệnh là 19,0% so với 0% ở nhóm có tiền sử bệnh lý trước đó, với p = 0,031.
3. Thang đo nào được sử dụng để đánh giá stress và cách tính điểm quy đổi ra sao?
Nghiên cứu sử dụng phân hệ Stress (S) của thang đo DASS-21 (Lovibond S.F, 1995; Osman A., 1997). Phân hệ gồm 7 câu hỏi với thang điểm trả lời từ 0 đến 3 điểm cho mỗi câu. Điểm của phân hệ stress được tính bằng tổng số điểm của 7 câu hỏi nhân với 2 (thang điểm dao động từ 0 đến 42). Phân loại gồm: bình thường (0 – 14 điểm), nhẹ (15 – 18 điểm), vừa (19 – 25 điểm), nặng (26 – 33 điểm) và rất nặng (≥ 34 điểm).
4. Vấn đề tâm lý nào khiến bệnh nhân sau phẫu thuật cắt cụt chi lo lắng nhiều nhất?
Kết quả khảo sát các mối bận tâm của người bệnh ghi nhận tỷ lệ cao nhất là lo sợ ảnh hưởng đến khả năng quan hệ tình dục bình thường (chiếm 64,6% với 31/48 bệnh nhân). Tiếp theo là nỗi lo ảnh hưởng xấu đến công việc hoặc mất việc làm (62,5%), lo sợ trở thành gánh nặng cho gia đình và người xung quanh (56,3%), lo ngại về sức khỏe suy giảm (54,2%), lo lắng về ngoại hình bị biến đổi (54,2%) và sợ bị phân biệt đối xử (43,8%).
5. Vì sao các yếu tố như triệu chứng đau sau mổ, tuổi tác và tình trạng hôn nhân không có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này?
Trong nghiên cứu, sự khác biệt về tỷ lệ stress theo lứa tuổi (p = 0,974), tình trạng hôn nhân (p = 0,833), điều kiện kinh tế (p = 0,720) và triệu chứng đau sau mổ (p = 0,589) đều có giá trị p > 0,05, tức không có ý nghĩa thống kê. Tác giả giải thích nguyên nhân chủ yếu là do cỡ mẫu nghiên cứu còn khiêm tốn (n = 48 bệnh nhân, chỉ có 8 ca ghi nhận stress), số lượng đối tượng trong từng phân nhóm nhỏ (ví dụ nhóm góa bụa, nhóm trên 60 tuổi, nhóm thu nhập khó khăn) quá ít, không đủ độ nhạy và sức mạnh thống kê để xác nhận mối liên quan thực tế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Minh Hiếu đã phản ánh thực trạng rối loạn căng thẳng ở bệnh nhân phẫu thuật cắt cụt chi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2023 với tỷ lệ stress chung là 16,7%. Nghiên cứu đã chứng minh bằng số liệu thực nghiệm rằng các yếu tố lâm sàng gồm giới tính nữ, vị trí mỏm cụt ở các khớp lớn, mức độ phụ thuộc vận động vào người chăm sóc và thời gian điều trị nội trú kéo dài trên 7 ngày có mối liên quan chặt chẽ mang ý nghĩa thống kê với sự gia tăng nguy cơ stress. Công trình là cơ sở khoa học quan trọng nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ bằng thang đo DASS-21 và phối hợp can thiệp hỗ trợ tâm lý sớm cho người bệnh trong thực hành ngoại khoa chấn thương chỉnh hình.