Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về rủi ro thanh khoản đối với hoạt động của N gân hàng TMCP Kỹ Thương Việt N am Chương 2: Ứng dụng Stress Test để đo lường rủi ro thanh khoản tại N gân hàng TMCP Kỹ Thương Việt N am Chương 3: Chính sách quản trị rủi ro và giải pháp nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản tại N gân hàng TMCP Kỹ Thương Việt N am Phần III: Kết luận và Kiến nghị 4 PHẦ 2. ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ RỦI RO THA H KHOẢ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘ G CỦA GÂ HÀ G 1. Lý thuyết chung về rủi ro đối với hoạt động ngân hàng 1. Giới thiệu chung về lý thuyết liên quan đến ngân hàng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các tổ chức tín dụng này ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng phong phú và hiện đại hơn.
N gân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan: - Huy động vốn bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn, vay vốn của các TCTD trong và ngoài nước, vay vốn N HN N. - Hoạt động tín dụng bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác. - Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm mở tài khoản, thu chi tiền, cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ, thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác. - Các hoạt động khác bao gồm góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, và các dịch vụ tư vấn khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
[19] Qua quá trình tồn tại và phát triển hàng thế kỷ, hệ thống N HTM ngày càng được hoàn thiện, N HTM trở thành một trong những định chế không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, hoạt động của ngân hàng thương mại sẽ góp phần to lớn trong việc thúc đNy nền kinh tế phát triển. Hoạt động của N HTM là hoạt động có tính chất kinh doanh và rủi ro là vấn đề không thể tránh được. N ói một cách khác thì rủi ro trong kinh doanh là những sự kiện bất lợi, bất ngờ, gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh, tàn phá các thành quả 5 đang có, bắt buộc các chủ thể phải chi phí nhiều hơn về nhân lực, vật lực, thời gian trong quá trình phát triển của mình. N hững rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng 1.
Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do khách hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết. N gân hàng chịu rủi ro tín dụng trong quá trình cho vay, đầu tư cũng như khi N gân hàng đóng vai trò trung gian thay mặt khách hàng hay các bên thứ ba khác hay khi N gân hàng cấp bảo lãnh. Rủi ro xảy ra khi các bên đối tác không có khả năng thanh toán nợ được giám sát một cách liên tục. Để quản lý được mức độ rủi ro tín dụng, N gân hàng chỉ giao dịch với các đối tác có uy tín tín dụng cao và khi thích hợp, sẽ yêu cầu có tài sản đảm bảo.
Rủi ro tín dụng chính mà N gân hàng gặp phải phát sinh từ các khoản cho vay của N gân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng này được phản ánh theo giá trị ghi sổ của các tài sản trên bảng cân đối kế toán hợp nhất. N goài ra, N gân hàng còn gặp phải rủi ro tín dụng ngoại bảng dưới dạng các cam kết cấp tín dụng và cấp bảo lãnh. Rủi ro lãi suất Là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của tổ chức tín dụng do những biến động về lãi suất.
Rủi ro lãi suất có thể phát sinh từ: (i) chênh lệch thời điểm ấn định mức lãi suất mới của tài sản và nguồn vốn; (ii) thay đổi mối quan hệ giữa các mức lãi suất thị trường khác nhau của các tài sản và nguồn vốn khác nhau; (iii) thay đổi mối quan hệ lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau; và (iv) thay đổi lựa chọn của khách hàng về duy trì kỳ hạn còn lại của các tài sản và nguồn vốn (khách hàng vay trả gốc trước hạn hoặc khách hàng gửi tiền rút gốc trước hạn. Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất biến động bất lợi gây tổn thất cho ngân hàng. N hững thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến thu nhập thông qua thay đổi thu nhập lãi ròng của ngân hàng, cụ thể nó ảnh hưởng tới thu nhập và chi phí của các tài sản 6 và nợ nhạy cảm với lãi suất. N hững thay đổi về lãi suất cũng ảnh hưởng đến giá trị tiềm Nn của giá trị tài sản và nợ bởi lãi suất thay đổi sẽ dẫn tới thay đổi giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai thu được từ các tài sản đó, qua đó ảnh hưởng tới giá trị vốn cổ phần của ngân hàng.
Rủi ro tiền tệ Rủi ro tiền tệ là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn phát sinh do có sự biến động của tỷ giá hối đoái. Rủi ro này chủ yếu xảy ra trong thời gian tổ chức tín dụng có trạng thái mở, ở cả nội bảng và ngoại bảng và/hoặc trên thị trường giao ngay hoặc trên thị trường kỳ hạn, thị trường tương lai. Tỷ giá biến động bất lợi tác động lên tài sản, nguồn vốn nợ hoặc các khoản mục ngoại bảng dưới dạng ngoại tệ khi ngân hàng đang có các trạng thái mở. Khả năng thua lỗ có thể phát sinh do quá trình đánh giá lại trạng thái ngoại tệ chuyển sang nội tệ.
Trạng thái ngoại hối phát sinh từ: - Sự mất cân đối về cơ cấu giữa tài sản và nguồn vốn nợ bằng ngoại tệ; Kinh doanh ngoại tệ thông qua các hợp đồng phái sinh như giao ngay, kỳ hạn, tương lai và quyền chọn; - Trạng thái ngoại tệ ngân hàng đang nắm giữ trong sổ sách (ví dụ tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ, các khoản đầu tư trái phiếu ngoại tệ…); - Tham gia vào các giao dịch phái sinh được thanh toán bằng ngoại tệ cho mục đích kinh doanh hoặc bảo hiểm rủi ro. Rủi ro tỷ giá được xét trên hai khía cạnh sau: - Rủi ro do giao dịch: xuất hiện khi tỷ giá thay đổi giữa thời gian nghĩa vụ phát sinh (ngày giao dịch – trade date) và thời gian thanh toán (tức ngày hiệu lực – value date) do đó ảnh hưởng tới dòng tiền thực tế. - Rủi ro do yếu tố kinh tế: phản ánh sự thay đổi giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai của ngân hàng do sự thay đổi tỷ giá bất ngờ, không dự đoán được. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản phát sinh trong quá trình N gân hàng huy động vốn nói chung và trong quá trình quản lý các trạng thái tiền tệ của N gân hàng.
Rủi ro thanh khoản là rủi ro do N gân hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc N gân hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao hơn mức chi phí bình quân của thị trường theo quy định nội bộ của N gân hàng. Rủi ro hoạt động Rủi ro hoạt động là khả năng xảy ra tổn thất do sai sót trong các hoạt động nội bộ của ngân hàng. Các sai sót này xảy ra khi quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc chưa chính xác, do còn người có trình độ chuyên môn hoặc đạo đức kém, do các hệ thống máy móc vận hành chưa thông suốt…Trong hoạt động của ngân hàng, nhân viên ngân hàng có thể cố tình gian lận hay vô tình mắc lỗi, ngân hàng thiếu hoặc mất những vị trí chủ chốt. Rủi ro hoạt động có thể bị gây ra bởi công nghệ thông tin nếu chất lượng, phần mềm kém, dữ liệu thông tin không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn sẽ dễ gây ra các sai sót hoặc lỗ hổng an ninh hệ thống.
Một nguyên nhân khác là từ quy trình, hệ thống không đầy đủ, thiếu hướng dẫn cụ thể gây khó khăn cho nhân viên hoặc có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro này có thể xảy ra do các yếu tố bên ngoài như pháp luật, thiên tai, tội phạm, khủng bố… Trên thực tế, rủi ro hoạt động luôn hiện hữu trong tất cả các giao dịch của ngân hàng. Có thể xem xét mức độ xảy ra và mức độ thiệt hại của rủi ro hoạt động theo 2 khía cạnh: những hoạt động có tần suất lớn nhưng mức độ thiệt hại lại nhỏ: như các nhầm lẫn, sai sót của nhân viên… và những hoạt động có tần suất nhỏ nhưng mức độ thiệt hại lại lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản ngân hàng. Tác động của rủi ro đến hoạt động kinh doanh ngân hàng - Tổn thất về kinh tế/ tài chính Trong hoạt động các nghiệp vụ của N HTM, để thực thi được cần chi ra một lượng chi phí hoạt động nhất định bao gồm: Chi trả lãi cho người gửi tiền, lãi tiền 8 vay cho các tổ chức tín dụng, tiền lương của cán bộ N gân hàng, chi phí mua sắm TSCĐ khác.
Rủi ro xảy ra sẽ làm tăng chi phí và dẫn đến thua lỗ, được biểu hiện dưới hình thức không đạt được thu nhập như dự kiến mà chi vượt quá dự toán, thu không đủ bù chi. Về lâu dài sẽ dẫn đến mất vốn, làm cho vốn tự có của N gân hàng không được tăng thêm mà còn giảm sút. Mà vốn tự có là yếu tố quan trọng trong quan hệ ban đầu với khách hàng. - Tổn thất về uy tín Tất cả các hoạt động kinh doanh của N gân hàng đều biểu hiện quan hệ hai chiều: Khách hàng tốt thì N gân hàng cho vay, N gân hàng uy tín cao trên thị trường thì khách hàng đến xin vay.