Chương 1: Cơ sở lý luận về stress và stress ở giáo viên tiểu học - Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 4 - Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng stress ở giáo viên tiểu học và đề xuất các biện pháp can thiệp giảm thiểu stress cho giáo viên tiểu học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ STRESS VÀ STRESS Ở GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về stress 1. Nghiên cứu về stress ở nước ngoài Theo lịch sử các nghiên cứu về stress đã thu thập được trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi nhận thấy: Tác giả David Fontana (1989), Thuật ngữ stress xuất hiện từ thế kỉ 15 với ý nghĩa ban đầu được dùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu. Đến thế kỷ 17 stress được dùng chỉ sức ép trên tâm lý con người khi trải qua thử thách gay go, tai họa hoặc nỗi đau buồn.
(David Fontana, 1989)[46] Tác giả Walter Cannon (1932) đưa ra thuật ngữ stress trong sinh lý học là phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy, còn được gọi là phản ứng kích thích quá mức hoặc phản ứng stress cấp tính. Lý thuyết của ông cho rằng động vật phản ứng với các mối đe dọa bằng sự phóng điện chung của hệ thống thần kinh giao cảm, khiến động vật chuẩn bị chiến đấu hoặc chạy trốn. (Cannon, 1932) [41] Tác giả Selye (1956) đã sử dụng thuật ngữ “stress” để biểu thị tác động của bất cứ điều gì đe dọa nghiêm trọng cân bằng nội môi. Mối đe dọa thực sự được nhận thức đối với một sinh vật được gọi là “tác nhân gây stress” và phản ứng đối với tác nhân gây stress được gọi là “phản ứng stress” (Selye H.(1992) cho rằng stress là động lực phát triển của con người trong tiến trình phát triển loài người (Hergenhahn B., 1992) [61] Tác giả Diamond DM (2004) định nghĩa stress là sự phản ứng của tinh thần trong những sự kiện khó khăn.
(Diamond DM, 2004)[47] Tác giả Isha Jalnapurkar (2018) nghiên cứu về sự khác biệt về giới tính của người stress đã cho biết nữ giới thường lo lắng hơn nam giới trong những yếu tố về gia đình (Isha Jalnapurkar, 2018) [65] Và gần đây nhất, theo định nghĩa về stress được WHO- tổ chức y tế thế giới công bố, stress được định nghĩa: Tác giả Alison Brunier- WHO (2022) định nghĩa Stress là bất kỳ loại thay đổi nào gây ra căng thẳng về thể chất, cảm xúc hoặc tâm lý. Stress là phản ứng của cơ thể người đối với bất cứ điều gì đòi hỏi sự chú ý hoặc hành động. Mọi người đều trải qua 6 stress ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên, cách con người phản ứng với stress sẽ tạo ra sự khác biệt lớn đối với sức khỏe của họ (Alison Brunier-WHO, 2022) [34] Nghiên cứu về stress được triển khai trên nhiều nhóm khách thể khác nhau: trên động vật, trên con người là nhân viên văn phòng, công nhân, y tá, giáo viên… Qua các nghiên cứu trên.
Nhóm nghiên cứu đề tài này đồng ý với các nhận định này về stress và đưa ra một định nghĩa chung về stress: stress là phản ứng thích nghi của cơ thể với những đổi thay gây ra căng thẳng về thể chất, cảm xúc hoặc tâm lý, là sự tương tác đặc biệt giữa kích thích- phản ứng mà trong đó cá nhân cảm thấy bị đe dọa. Mọi người đều trải qua stress ở một mức độ nào đó. Trong tiến trình phát triển của mỗi con người, cần có stress để làm động lực cho sự phát triển. Hướng nghiên cứu về biểu hiện của stress Biểu hiện về mặt sinh lí: Một nghiên cứu của American Psychological Association (APA) (2018) cho thấy căng thẳng ảnh hưởng đến tất cả các hệ thống của cơ thể bao gồm hệ thống cơ xương, hô hấp, tim mạch, nội tiết, tiêu hóa, thần kinh và sinh sản.
Ngoài ra, stress cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của con người, dẫn đến một loạt các vấn đề sức khỏe khác. , 2018) [35] Biểu hiện về mặt nhận thức: Theo Archibong (2010) biểu hiện ở mặt nhận thức của stress là làm cho người bị stress giảm sút trí nhớ, khó tập trung, suy nghĩ chậm, không có khả năng đưa ra quyết định. (Archibong, 2010)[36] Theo Abiola Keller (2012) có đến 33,7% người trưởng thành ở Hoa Kỳ nhận thấy rằng căng thẳng ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và cuộc sống của họ và tăng 43% nguy cơ tử vong sớm. (Abiola Keller, 2012) [31] Biểu hiện của stress về cảm xúc: Smith C.
A (2001) trong một nghiên cứu đã phát hiện ra: người bị stress thường có biểu hiện về mặt cảm xúc, đồng thời, khi stress xuất hiện sẽ có những cảm xúc khó chịu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cách người ta suy nghĩ về tác nhân gây stress sẽ tạo ra những cảm xúc khác nhau., 2001) [83] 7 Biểu hiện của stress về mặt hành vi Tác giả Robinson J. (1989) cho rằng hành vi tiêu cực biểu hiện của stress bao gồm những hành vi vượt quá ngưỡng bình thường và có ảnh hưởng đến cá nhân người stress và những người xung quanh họ. Biểu hiện ở khía cạnh hành vi gồm 2 loại hành vi tiêu cực và hành vi tích cực.
(Robinson, 1989) [77] Theo nghiên cứu của American Psychological Association (APA) (2018), các biểu hiện của stress bao gồm: khó ngủ, lo âu, sự lo lắng, khó tập trung và mệt mỏi. (American Psychological Association (APA), 2018) [35] Như vậy, theo quan điểm của các tác giả trong các nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy các biểu hiện stress gồm biểu hiện về mặt sinh lí, nhận thức, cảm xúc và hành vi. Hướng nghiên cứu về tác nhân gây stress Theo Hinkle L. (1987) hiện tượng căng thẳng đã có từ thuở ban sơ trong lịch sử phát triển nhân loại.
(1979) cho rằng stress có nguồn gốc từ các sự kiện trong đời sống, liên quan đến tính cá nhân và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người., 1979) [62] , [68] Tác giả Lazarus (1993) đã khẳng định, stress có tác nhân từ các biến số môi trường sống và cảm xúc bên trong của chúng ta. (Lazarus, 1993) [71] Tác giả Kamaldeep Bhui (2016) cho rằng stress có thể là kết quả của việc tiếp xúc với một loạt các yếu tố gây stress trong công việc và dường như phát sinh khi mọi người cố gắng quản lý trách nhiệm, nhiệm vụ hoặc các hình thức áp lực khác liên quan đến công việc của họ và gặp khó khăn, căng thẳng, lo lắng. Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của stress Từ hàng loạt các thử nghiệm kích thích cấp tính tiến hành trên súc vật, Hans Selye (1956) đã nhận thấy các đáp ứng không đặc hiệu mà ông gọi là hội chứng thích nghi với ba giai đoạn (giai đoạn báo động, giai đoạn chống đỡ và giai đoạn suy kiệt) có liên quan đến tăng bài tiết Glucococticoit ở vỏ thượng thận. Stress tâm lý trong tâm thần học chỉ sang chấn tâm thần trong những sự việc, những hoàn cảnh, trong các điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối quan hệ giữa người với người.
Stress tác động vào tâm thần, gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng. (1974) đã chỉ ra rằng stress là tác nhân của một số bệnh về thể chất và tâm thần (House J., 1974) [64] Tác giả Akinmayowa (2016) cho rằng, stress là một cảm giác căng thẳng và dồn ép có tính tiêu cực hoặc tích cực, có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất của con người; nếu stress ở mức độ vừa phải (stress tích cực) sẽ là điều tốt, sẽ thúc đẩy con người làm việc. Cụ thể là, stress tích cực giúp tăng hiệu suất vận động thể thao, tăng cường sức khoẻ; giúp con người thích nghi và phản ứng với môi trường xung quanh, nhanh nhẹn, hoạt bát. Ngược lại, stress ở mức độ cao (stress tiêu cực) có thể dẫn đến nhiều nguy cơ về sức khoẻ tinh thần và thể chất cho con người.
(Akinmayowa, 2016) [32] Theo tác giả Roster (2019), các tác nhân gây stress có thể gây ra các phản ứng vật lý, hóa học và tinh thần bên trong gồm: Các yếu tố gây căng thẳng vật lý tạo ra các tác động cơ học lên da, xương, dây chằng, gân, cơ và dây thần kinh gây biến dạng mô hoặc thậm chí làm hỏng mô. 9 Căng thẳng hóa học cũng tạo ra các phản ứng cơ sinh học liên quan đến quá trình trao đổi chất và sửa chữa mô. Các tác nhân gây stress về thể chất có thể gây ra đau đớn và làm giảm hiệu quả công việc. (Roster, 2019) [78] Như vậy, tổng hợp theo ý kiến của các nhà nghiên cứu trên, nghiên cứu này thống nhất stress ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người, cụ thể về sức khỏe tâm thần, stress gây ra những cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực như: sợ hãi, lo lắng, buồn rầu, tức giận, ghen tuông, thất vọng,.
Về sức khỏe thể chất, stress có thể gây đau đớn và làm giảm hiệu quả công việc. Hướng nghiên cứu về thang đo đánh giá stress Trên thế giới, có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các vấn đề sức khoẻ tâm thần trong đó có stress, lo âu, trầm cảm. (1974) đã xây dựng “Thang đo các sự kiện trong cuộc sống” (Life Events Scale) gồm 43 biến cố của đời sống về các lĩnh vực như gia đình, cá nhân, việc làm, tài chính… Mỗi sự kiện đều được gán một số điểm cố định, tiêu biểu cho số lượng đơn vị biến số ảnh hưởng đến đời sống. Điểm cao nhất là 100 điểm cho biến số qua đời của người thân trong gia đình, trung bình 50 điểm là cho hôn nhân, thấp nhất là 11 điểm cho lỗi vi phạm nhắc nhở về pháp luật.
Sau khi nghiên cứu và thực nghiệm bằng nhiều cách khác nhau, Holmes đã đi đến kết luận: các biến cố cuộc sống có liên quan đến tác nhân gây ra bệnh tật, thời điểm xuất hiện và mức độ trầm trọng của nó. [63] Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu đã cho ra đời nhiều các bộ công cụ khác: Trắc nghiệm stress - Perceived stress scale-10 (PSS 10) của Cohen, Kamarck, Mermelstein (1983): Thang đo PSS là công cụ tâm lý được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường mức độ tác động của các yếu tố căng thẳng đến cảm xúc của đối tượng. Các câu hỏi được thiết kế để sử dụng trong cộng đồng. Bộ test đã được sử dụng ở nhiều nước.
Các câu hỏi được trình bày dễ hiểu rõ ràng và khái quát cho bất kỳ nhóm người nào trong cộng đồng. Các câu hỏi trong PSS hỏi về cảm xúc và suy nghĩ trong tháng vừa qua.