Chương 1. Cơ SỞ LÍ LUẬN • VỀ HOẠT • ĐỘNG • THAM VẤN TÂM LÍ CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về khó khăn tâm lí của giáo viên tiếu học Nhận thấy vai trò quan trọng của sức khỏe tâm thần của GV đối với kết quả giáo dục, từ nhũng năm cuối thập niên 70 của thế kỉ XX, nhiều quốc gia trên thế giới đã không ngừng thực hiện những nghiên cứu để tìm hiểu những khó khăn áp lục GV gặp phải trong quá trình lao động nghề nghiệp, tìm hiểu nguyên nhân từ đó đưa ra những giải pháp ở các mức độ khác nhau, chẳng hạn: Albertson & Kagan (1987), Antoniou và cộng sự (2006), Berg (1994), Carroll và cộng sự (2022), von der Embse và cộng sự (2019), Chaplain (1995), Gold & Roth, (1993), Jones & Young (2012), Karasek (1979), Klassen và Chiu (2011), Kush và cộng sự (2022), Newberry và Allsop (2017), Pithers và Soden (1998), Prakke và cộng sự (2007), Ravichandran và Rajendran (2007), Tang và cộng sự (2001), Troman và Woods (2001),.
Đặc biệt, trong giai đoạn dịch Covid-19 trên toàn thế giới, có khá nhiều nghiên cứu tác động của Covid đến giáo dục, cụ thể là đối với GV được thực hiện để mô tă bức tranh thực trạng và tìm ra những giải pháp ứng phó với những thay đổi không ngừng của xã hội. Một nghiên cứu ở Mỳ cho thấy, 1/4 số lượng GV mới vào nghề có nguy cơ bị căng thẳng trong năm đầu tiên đi làm (Fitchett et al. Cũng theo báo cáo, giảng dạy là một trong những công việc căng thắng nhất ờ Mỹ, 44% GVTH được hởi cho biết công việc của họ luôn luôn hoặc rất thường xuyên trải nghiệm kiệt sức (Zagkas et al. Sự suy kiệt dưới mọi hình thức gồm cả tinh thần, cảm xúc và thể chất.
Cảm xúc của họ khá đa dạng như: thất vọng, lo lắng, tức giận, trầm cảm, tuyệt vọng,. Điều này cũng được các nhà nghiên cứu Hà Lan đồng tình và một lần nữa chỉ rõ trong báo cáo: Nghề dạy học được coi là một nghề rất căng thẳng (Newberry & Allsop, 2017). 5 Các nghiên cứu của Jeon và cộng sự (2018), Shemoff và cộng sự (2011), Yoon (2002) cho biết biểu hiện dễ nhận thấy của căng thẳng tâm lý của GV bao gồm dành ít thời gian hơn cho việc soạn giáo án đổi mới; ít nhiệt tình hơn cho việc giảng dạy; giữ ít trách nhiệm hơn đối với việc học tập của HS và ban hành các thực hành kỷ luật trừng phạt hơn trong lớp học của họ. Khảo sát GV ở châu Âu cho thấy: kiệt sức, trầm cảm và phản ứng căng thắng là thường gặp đối với GV đặc biệt là GVTH (ETUCE, 2007).
Kết quả nghiên cứu khảo sát 800 GV Bồ Đào Nha cho thấy 1/3 trong số đó chịu mức độ căng thẳng, kiệt sức cao cả về thể chất và tinh thần, đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ trực tiếp giữa mức độ kiệt sức cao và mức độ hài lòng công việc thấp, thậm chí họ còn có ý định bở dạy (European Union, 2016). Khi đại dịch covid xảy ra, các cuộc tranh luận về việc mở cửa trở lại và những lo ngại về an toàn cá nhân đang khiến sức khỏe tâm thần của giáo viên trở nên tồi tệ hơn (Mader, 2020). Theo kết quả khảo sát của CDC, Hoa Kỳ cho thấy 52% GV báo cáo rằng sức khỏe tâm thần của họ suy giảm sau đại dịch Covid-19. Có khoảng 27% GV sàng lọc bằng trầm cảm bằng thang PHỌ-9 đáp ứng trầm cảm; 37% GV sàng lọc bằng thang GAD-7 đáp ứng lo âu; trong đó có 19% GV báo cáo rằng đã SŨ dụng các chất kích thích gây nghiện như rượu như một cách giải tỏa stress và cảm xúc tiêu cực.
Khảo sát này cũng cho thấy khoảng 53% GV nghĩ nhiều hơn đến việc rời khói vị trí công tác so với trước đại dịch. Còn khảo sát Teacher Wellbeing Index năm 2022 cho thấy có khoảng 75% GV đang căng thẳng quá mức; 47% GV báo cáo thường xuyên đến trường làm việc trong tình trạng không hoàn toàn khỏe mạnh về tinh thần, 59% cảm thấy không tự tin khi chia sẻ về những vấn đề sức khỏe tâm thần của bản thân và 48% cảm thấy không được hồ trợ về sức khỏe tâm thần của bất cứ một tồ chức hay dịch vụ nào. Các nghiên cứu ở Tây Ban Nha cho thấy, ở trong và sau đại dịch GV nữ gặp nhiều khó khăn tâm lí hơn GV nam, đặc biệt sự lo lắng tập trung cao nhất 6 ở nhóm GV mầm non và tiểu học, do GV ớ cấp học này cảm thấy có trách nhiệm lớn hơn đối với những HS nhỏ hơn. Mức độ lo lắng và căng thẳng cao nhất ở nhóm người trên 47 tuồi mặc dù người trẻ tuổi lại có nhiều biểu hiện triệu chúng hơn.
Điều này có thể lí giải bởi khả năng thích ứng với sự thay đổi đặc biệt với công nghệ của GV lớn tuổi kém hơn. Bên cạnh đó một số nghiên cứu khác lại chỉ ra điểm số cao hơn về trầm cảm, lo lắng và căng thắng ờ một số người trẻ tuổi đặc biệt là GV họp đồng bởi liên quan đến tình trạng việc làm, bất ồn việc làm sẽ gia tăng do đại dịch cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe GV (Ozamiz-Etxebarria et al. Ở Việt Nam, thời gian vừa qua đã có khá nhiều những nghiên cứu liên quan đến thực trạng chất lượng và đời sống GV, áp lực nghề nghiệp của GV, sự hài lòng trong công việc, sức khởe tâm thần của GVTH,. trong đó có đề cập đến khía cạnh khó khăn tâm lí của GV.
Các nghiên cứu điến hình phải kế đến như: Trần Thị Minh Đức và cộng sự (2021), Phùng Thị Thu Trang (2020), Vũ Trọng Rỹ (2020), Nguyễn Thị Kiều Oanh (2019), Nguyễn Thị Thúy Dung (2016), Tô Bá Trượng (2018), Phan Văn Kha (2018),. Hầu hết các nghiên cứu khẳng định giảng dạy là một trong nhũng công việc có áp lực cao, phản ứng căng thẳng cũng như mức độ kiệt sức ngày càng tăng, đặc biệt trong bối cảnh đồi mới chương trình giáo dục phổ thông và ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 trong những năm qua. Nghiên cứu của tác già Nguyễn Thị Thúy Dung (2016) cho thấy, 100% người được hỏi xác nhận họ từng rơi vào stress và thừa nhận các biểu hiện dù không xuất hiện ở mức thường xuyên và rất thường xuyên nhưng đều hiện diện các mặt biểu hiện ở cơ thể, cảm xúc, nhận thức và hành vi như: (1) Cơ thể: Đau đầu; tăng huyết áp; đau nhức cơ; ăn không tiêu, đau dạ dày; (2) Cảm xúc: Lo lắng; Buồn rầu; Cảm giác cô đơn; Cảm giác kém cỏi thất bại; Không còn hứng thú với những thú vui, sở thích thường ngày; Muốn bở mặc, buông xuôi, Dễ nối cáu, nóng giận; (3) Nhận thức: Khó tập trung, chú ý; Trí nhớ giảm sút, mau 7 quên hay nhầm lẫn; Khó sắp xếp, xử lí thông tin, phán đoán và quyết định; (4) Hành vi, thói quen: Thay đổi thói quen ăn uống; Rối loạn giấc ngủ; Hành động lóng ngóng dần đến hư hỏng đổ vỡ; sắp xếp, quản lí thời gian không hiệu quả, giảm năng suất lao động. Trong nghiên cứu “Giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông” của Quỳ Hòa bình và Phát triển Việt Nam, kết quả khảo sát hon 500 GV cho thấy, có tới 40,9 % GVTH gặp khó khăn, áp lực, chán nản và cảm thấy không muốn tiếp tục làm nghề dạy học của mình nữa.
Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng chất lượng và đời sống vật chất tinh thần của đội ngũ GV, CBQL của tác giả Vũ Trọng Rỳ (2020), cho biết, do phải chịu nhiều áp lực từ nhiều phía nên không hiếm GV rơi vào trạng thái stress, mệt mỏi kéo dài. Tác giả Trần Thị Minh Đức và cộng sự (2021) đã tiến hành nghiên cứu trên 217 GV mầm non và tiểu học để đánh giá sự suy kiệt của GV trên 3 phương diện: suy kiệt cá nhân, suy kiệt công việc và suy kiệt đồng nghiệp; đồng thời thực hiện đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng của họ. Ket quả nghiên cứu cho thấy giữa suy kiệt và các thành tố của suy kiệt có mối tương quan thuận chặt chẽ và có ý nghĩa dự báo tác động đến trầm cảm, lo âu căng thẳng ở GV mầm non và tiểu học. Trong quá trình nghiên cứu chỉ ra những khó khăn tâm lí của GV, các tác giả trong và ngoài nước đều đồng thời xác định các nguyên nhân, nguồn gốc gây ra những khó khăn tâm lí cho G V, khẳng định những ảnh hưởng tác động tiêu cực của những khó khăn tâm lí đó tới HS bao gồm cả kết quả học tập của các em.
Nghiên cứu các yếu tố gây khó khăn tâm lí cho GV tập trung vào một số hướng chính: Nhóm nguyên nhân liên quan đến yếu tố cá nhân bao gồm các đặc điểm và hoàn cảnh cụ thề của từng GV; Nhóm yếu tố liên quan đến HS bao gồm các đặc điểm cụ thể của cộng đồng HS tạo ra các tình huống gây áp lực, khó khăn cho GV; Nhóm yếu tố liên quan đến những đối tượng khác ngoài HS, chẳng hạn quan hệ đồng nghiệp hoặc cấp trên; thiếu sự hỗ trợ từ cha mẹ 8 HS; Nhóm yếu tố liên quan đến công việc như quá tải, sự thay đổi nhiều và liên tục về mặt tổ chức công việc. Như vậy, có thế thấy, rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đã thực hiện các công trình nghiên cứu để tìm hiểu, đánh giá, đưa ra bức tranh thực trạng đa màu sắc về khó khăn tâm lí của GV đặc biệt là GVTH. Đồng thời, trong các nghiên cứu đã xác định rõ những khó khăn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan của GV đến sức khỏe, tinh thần, chất lượng và hiệu quả quá trình giáo dục. Nghiên cứu về nhu cầu tư vấn tâm lí của giáo viên tiểu học Việc tìm hiểu nhu cầu tham vấn tâm lí của GVTH được các tác giả ngoài nước thực hiện cùng quá trình tìm hiểu về khó khăn tâm lí của GV phổ thông quá trình xây dựng, thực hiện các chương trình hỗ trợ GV.
Các nghiên cứu của các tác giả như: Jennings và Greenberg (2009), Rothi và cộng sự (2010), Zagkas và cộng sự (2023),. Ngoài việc cho thấy kết quả mức độ căng thắng ở GV diễn ra phổ biến ở mức độ rất cao, các nghiên cứu cũng đề cập đến nhu cầu được hồ trợ tâm lí để giải quyết những khó khăn, áp lực của GV. GV mong muốn được hỗ trợ để ứng phó với sự thay đổi, có những phản ứng tích cực với những thay đổi và áp lực và kiểm soát được cảm xúc cá nhân.