Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu về stress trên thế giới Trước đây, đã có những tài liệu nghiên cứu về stress được công bố nhưng phần lớn thuộc về lĩnh vực sinh lý học và y học.
Mặc dù vấn đề về tâm lý đã có được đề cập trong quá trình nghiên cứu, tuy nhiên mãi đến giữa thế kỉ XX, những tư tưởng này mới được phát triển mạnh mẽ. Theo nhà phân tâm học S.Freud, các rối loạn về mặt cơ thể chỉ là sự thể hiện biểu trưng (symbol) của những xung đột nội tâm bị đè nén và ức chế.Freud đã cự tuyệt việc tuyệt đối hóa vai trò và ưu thế của tâm lý đối với cơ thể nhưng điều này đã không ngăn cản được nhiều tác giả khác đã lí giải về bệnh của cơ thể theo trường phái Phân tâm. Họ cho rằng tất cả các triệu chứng của cơ thể đều để giải tỏa năng lượng Libido bởi chúng là phương thức giúp dung hòa mọi thay đổi của cơ thể. Các bệnh về đường hô hấp chỉ là sự thể hiện quay trở lại thời kì nằm trong bụng mẹ, khi mà hệ hô hấp chưa hoạt động… Còn về các dạng co giật của vận động cơ thể chỉ là sự né tránh căng thẳng của tính dục.Trên cơ sở lý thuyết phân tâm, Alexander (1950) cho rằng các yếu tố tâm lý và cụ thể là sự xung đột tâm lý đóng vai trò quan trọng trong 7 bệnh thực thể: viêm ruột non cục bộ; viên khớp dạng thấp và hen phế quản; cao huyết áp vô căn; loét dạ dày - tá tràng; viêm đại tràng.
Luận điểm về cơ chế bệnh tâm - thể của Alexander được rất nhiều người chú ý. Hai nhà khoa học người Mỹ là R.Dodson, qua những công trình nghiên cứu của mình vào năm 1908, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng sự tăng cường độ làm việc của hệ thần kinh đến một mức độ nhất định thì hiệu quả hoạt động lao động cũng được tăng lên. Tuy nhiên, nếu hệ thần kinh tiếp tục hoạt động tăng lên quá nhiều thì các thông số của hoạt động lao động lại hạ xuống thấp, đặc biệt là đối với những hoạt động mang tính phức tạp. 8 Dunbar (1954) cũng cho rằng: những người cùng bị một loại bệnh sẽ thường có cùng một kiểu (profile) nhân cách.
Theo bà, có 8 loại bệnh phụ thuộc nhiều vào yếu tố nhân cách hơn so với các bệnh khác, ví dụ như loạn nhịp tim, viêm khớp dạng thấp, huyết áp cao, tiểu đường … Ngày nay vẫn có rất nhiều nghiên cứu sử dụng tư tưởng của Dunbar về kiểu nhân cách để làm cơ sở khoa học. Một nhà khoa học khác là Engel (1954) đã phát hiện ra khái niệm căn nguyên đa yếu tố. Đến năm 1977 ông đã thiết lập được mô hình tâm - sinh - xã hội (biopsychosocial) của bệnh. Với quan điểm này, đã giúp đưa ra việc tìm kiếm và giải thích nguyên nhân của bệnh là sự kết hợp của nhiều yếu tố về mặt cơ thể, tâm lý và xã hội chứ không nên tìm kiếm và giải thích bệnh thuần túy theo một yếu tố nào.
Với tác phẩm “Quẳng gánh lo đi mà vui sống” của tác giả Dale Carnegie, để đương đầu với stress cần có 30 phương pháp quan trọng - hiện tượng phổ biến trong xã hội văn minh. Đây chính là một tác phẩm có ý nghĩa về thực tiễn, giúp cho con người trong xã hội hiện đại học được cách để sống chung với stress.Ximonov với học thuyết “Phản ánh” của mình đã kết luận rằng “Cảm xúc là do sự tác động qua lại giữa nhu cầu và khả năng đạt mục tiêu”. Theo ông, một cảm xúc tiêu cực nảy sinh chính là kết quả của sự thiếu hụt thông tin thực tiễn cho hành động thỏa mãn và hành động thích nghi. Do đó, ông cho rằng: kết quả của thông tin đáng tin cậy về hành động dựa trên thông tin đó sẽ giúp ích cho việc giải quyết stress.
Đây là lý thuyết thông tin vô cùng quan trọngvề cảm xúc, nó chỉ ra những nguyên nhân quan trọng gây ra stress là vì sự thiếu hụt thông tin cần thiết, vì thế có thể hỗ trợ làm giảm stress cho con người nói chung. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, trong tác phẩm nổi tiếng “Cú sốc tương lai” Alvin Tofler - nhà tương lai học Hoa Kỳ đã khẳng định: Trong xã 9 hội hiện đại - xã hội mà Alvin Tofler gọi đó là làn sóng thứ 3 - văn minh tin học và sinh học, kế thừa văn minh công nghiệp thì tác động của những sự thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến việc cá nhân bị kích thích một cách quá độ, giác quan bị tấn công do lượng kích thích quá tải dẫn đến stress. Đồng quan quan điểm như trên, H.Selye cho rằng, đó là sự khác nhau về sinh sản hormone ở mỗi người khi bị stress. Đây chỉ là sự nhận định đứng trên góc độ của những nghiên cứu về nội tiết học.Pavlov thì bốn kiểu thần kinh của con ngườicũng có ý nghĩa rất quan trọng khi xem xét về đặc điểm cá nhân vừa do di truyền vừa do tập nhiễm và đặc biệt là giáo dục, cho nên những biện pháp giải quyết cần phải bao gồm cả công tác tuyển dụng, đào tạo và sử dụng nhân lực.Gardell (1979) và nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu về stress đã phát hiện ra rằng: stress mà nảy sinh trong quá trình làm việc có thể gây ảnh hưởng, lây lan sang thời gian ngoài giờ làm việc và khó có thể giải tỏa stress được dù bạn có được nghỉ ngơi.
Chính lẽ đó, các nhà nghiên cứu tin rằng thay bằng tìm cách tháo gỡ stress vào thời gian nghỉ ngơi thì việc ngăn ngừa sự nảy sinh stress trong thời gian làm việc sẽ hiệu quả hơn. Những công trình nghiên cứu về stress của mỗi cá nhân về nguyên nhân, khả năng mắc phải stress là khác nhau, do đó cần có những liệu pháp tâm lý về tinh thần khác nhau để loại trừ stress. Theo những nghiên cứu trước đây, cho thấy có người rất dễ bị stress, còn có một số những người khác lại khó mắc phải stress hơn. Có người chọn cách ứng xử một cách chủ động với stress, nhưng cũng có người lại chọn cách ứng xử thụ động khi stress.
Các nghiên cứu này cho thấy có thể có những phản ứng tâm thể khác nhau khi gặp cùng một yếu tố gây ra stress tùy vào mỗi cá nhân. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về stress trên thế giới, khi nghiên cứu về những trường hợp dễ bị stress, trong đó có những người là giáo viên mầm non thì stress hầu như xuất hiện ở mọi giáo 10 viên, trung bình cứ bốn giáo viên thì sẽ có một giáo viên khá thường xuyên bị stress (Kyriacou, 2000; Hayes, 2006). Các nghiên cứu về stress ở giáo viên mầm non của các tác giả như Kelly và Berthelsen (1995,1997), Tsai, Fung, Chơ (2006), Zinsser, Bailey, Curby, Denham và Bassett (2013) cho thấy, mức độ stress ở giáo viên mầm non hiện nay diễn ra phổ biến ở mức độ rất cao. Có rất nhiều tác nhân gây ra stress ở giáo viên mầm non như: áp lực thời gian, đáp ứng nhu cầu của trẻ, đối phó với nhiệm vụ không liên quan đến giảng dạy, duy trì hoạt động giảng dạy thực hành, đáp ứng nhu cầu cá nhân, vấn đề liên quan đến phụ huynh của trẻ, mối quan hệ với đồng nghiệp, những vấn đề về các chương trình ở trường mầm non, và những áp lực công việc, sự chuyên nghiệp trong công việc, kỷ luật và động lực.
Nghiên cứu về stress ở giáo viên của các tác giả trên thế giới (Azlihanis, Nyi, Aziah, Rusli, 2009; Tashi, 2014; Kyriacou và Chien, 2004; Aftab và Khatoon, 2012; Samad, Hashim, 2010; Olaitan, 2009; Holeyannavar và Itagi, 2012, cho thấy, có rất nhiều tác nhân tác động gây stress cho giáo viên. Các tác nhân là những tình huống, sự kiện nảy sinh trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên. Các nghiên cứu stress ở giảng viên đại học và cao đẳng của các tác giả nước ngoài (Chaudhry, 2013; Sindhu, 2014; Bruin, Taylor, 2005; Mkumbo, 2014; Idris, 2011; Senthil, Mohan, Velmurugan, 2013; Slišković, Maslić, 2011; Nagra, Arora, 2013) cho thấy, stress ở giảng viên đang diễn ra phổ biến và ở mức độ cao (Trịnh Viết Then, 2016). Thông qua những nghiên cứu về mức độ stress của giáo viên mầm non như đã nêu ở trên, chúng ta có thể bắt gặp những nét tương đồng về khả năng xuất hiện stress ở những người làm can thiệp tâm lý vì nguyên nhân dẫn đến stress của hai nhóm công việc này là tương đối giống nhau.
Ngoài những hệ lụy mà stress gây ra cho cả hai nhóm thì stress ở NLCTTL sẽ dẫn đến những biến đổi, trải nghiệm với các mức độ khác nhau về cảm xúc, sự mệt mỏi, vấn 11 đề ăn uống, hành vi, vấn đề tim mạch và những hệ quả có liên quan khác như: không đáp ứng được nhiệm vụ công việc, nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, ảnh hưởng đến mối quan hệ với đồng nghiệp, với lãnh đạo của Trung tâm. Để ứng phó với những áp lực trong công việc, NLCTTL cần có những phản ứng tích cực với những thay đổi và áp lực trong công việc, phải quyết đoán hơn, kiểm soát cảm xúc cá nhân. NLCTTL cũng cần hỗ trợ cho các đồng nghiệp, giúp đồng nghiệp tự tin hơn trong công việc, để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ công việc một cách hiệu quả nhất. Dựa vào những kết quả nghiên cứu trên cho thấy stress là một hiện tượng phổ biến, mọi cá nhân, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi đều có nguy cơ bị stress với những mức độ khác nhau.
Bên cạnh đó, stress còn là đề tài nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên thế giới, mỗi nghiên cứu đã cố gắng làm sáng tỏ bản chất, cơ chế hoạt động và đồng thời đưa ra những giải pháp giúp con người phát hiện, kiểm soát và ứng phó với stress. Những công trình nghiên cứu về stress ở Việt Nam Nguyễn Văn Nhận và những cộng sự của ông là các bác sỹ Nguyễn Hữu Nghiêm và Phạm Ngọc Rao, trong tác phẩm “Stress trong thời đại văn minh” đã cảnh báo về nguy cơ bị stress đối với con người đang sống trong xã hội văn minh, đặc biệt là thời đại công nghệ số hiện nay và hậu quả ghê gớm của nó. Tuy nhiên, bên cạnh đó, con người có thể ứng phó hiệu quả với stress bằng cách điều chỉnh lối sống và tập luyện các phương pháp giải tỏa stress bằng những điều kiện, yếu tố mà xã hội hiện đại mang lại.