Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống khoai lang chất lượng cao vụ đông năm 2013 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống khoai lang chất lượng cao vụ đông 2013 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

62
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1. Ý nghĩa khoa học

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang

2.2. Những đặc tính nông học và yêu cầu ngoại cảnh và đất trồng đối với khoai lang

2.2.1. Đặc tính nông học

2.2.2. Yêu cầu ngoại cảnh và đất trồng đối với cây khoai lang

2.2.2.1. Nhiệt độ và độ ẩm
2.2.2.2. Đất
2.2.2.3. Nhu cầu dinh dưỡng

3. PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm và kỹ thuật trồng

3.4. Các chỉ tiêu theo dõi

3.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống khoai lang thí nghiệm vụ Đông năm 2013 tại trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

4.2. Đặc điểm hình thái của các giống khoai lang tham gia thí nghiệm

4.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống khoai lang thí nghiệm

4.4. Khả năng chống chịu của các giống tham gia thí nghiệm

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu sinh trưởng

Nghiên cứu tập trung vào khả năng sinh trưởng của các giống khoai lang chất lượng cao trong vụ đông 2013 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tốc độ tăng trưởng thân, chiều dài thân chính, và độ che phủ luống. Kết quả cho thấy các giống khoai lang có sự khác biệt đáng kể về khả năng sinh trưởng, với một số giống thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh và độ che phủ luống cao hơn. Điều này phản ánh sự thích nghi của các giống với điều kiện khí hậu và đất đai tại Thái Nguyên.

1.1. Động thái tăng trưởng

Động thái tăng trưởng chiều dài thân chính được ghi nhận qua các giai đoạn 30, 60, và 90 ngày sau trồng. Các giống khoai lang có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn đầu, đạt chiều dài thân chính từ 1.5-2.0 cm/ngày. Sự khác biệt này cho thấy tiềm năng của các giống trong việc thích nghi với điều kiện vụ đông.

1.2. Độ che phủ luống

Độ che phủ luống là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng của khoai lang. Các giống có độ che phủ cao hơn 80% sau 90 ngày trồng cho thấy khả năng phát triển thân lá mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và tích lũy chất dinh dưỡng.

II. Phát triển giống khoai lang

Nghiên cứu đánh giá phát triển giống khoai lang chất lượng cao, tập trung vào các yếu tố cấu thành năng suất như số củ, kích thước củ, và tỷ lệ củ thương phẩm. Các giống khoai lang được lựa chọn dựa trên khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện vụ đông tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy một số giống có năng suất củ cao, đạt từ 15-20 tấn/ha, với tỷ lệ củ thương phẩm trên 70%.

2.1. Yếu tố cấu thành năng suất

Các yếu tố cấu thành năng suất bao gồm số củ, kích thước củ, và tỷ lệ củ thương phẩm. Giống khoai lang có số củ từ 4-6 củ/cây và kích thước củ lớn hơn 200g cho thấy tiềm năng năng suất cao, phù hợp với nhu cầu thị trường.

2.2. Tỷ lệ củ thương phẩm

Tỷ lệ củ thương phẩm là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng khoai lang. Các giống có tỷ lệ củ thương phẩm trên 70% được đánh giá cao, phù hợp với mục tiêu sản xuất khoai lang chất lượng cao.

III. Khoai lang chất lượng cao

Nghiên cứu tập trung vào việc phát triển khoai lang chất lượng cao với mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị kinh tế. Các giống khoai lang được đánh giá dựa trên hàm lượng tinh bột, chất khô, và giá trị dinh dưỡng. Kết quả cho thấy một số giống có hàm lượng tinh bột cao, đạt từ 20-25%, và giá trị dinh dưỡng phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng cao.

3.1. Hàm lượng tinh bột

Hàm lượng tinh bột là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng khoai lang. Các giống có hàm lượng tinh bột từ 20-25% được đánh giá là phù hợp với mục tiêu sản xuất khoai lang chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu chế biến và tiêu dùng.

3.2. Giá trị dinh dưỡng

Giá trị dinh dưỡng của khoai lang được đánh giá dựa trên hàm lượng vitamin và khoáng chất. Các giống có hàm lượng vitamin A và C cao được ưu tiên lựa chọn, phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của người tiêu dùng.

IV. Vụ đông 2013

Nghiên cứu được thực hiện trong vụ đông 2013 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, nhằm đánh giá khả năng thích nghi của các giống khoai lang trong điều kiện khí hậu và đất đai đặc thù của vùng. Kết quả cho thấy các giống khoai lang có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện vụ đông, với năng suất và chất lượng đạt yêu cầu.

4.1. Điều kiện khí hậu

Điều kiện khí hậu vụ đông 2013 tại Thái Nguyên được ghi nhận với nhiệt độ trung bình từ 20-25°C và độ ẩm đất từ 70-80%. Các giống khoai lang thể hiện khả năng thích nghi tốt với điều kiện này, đạt năng suất cao và chất lượng ổn định.

4.2. Đất đai

Đất đai tại khu vực nghiên cứu có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, phù hợp với canh tác khoai lang. Các giống khoai lang được trồng trên đất này cho thấy khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, đạt năng suất cao.

V. Giống cây trồng

Nghiên cứu tập trung vào việc lựa chọn và đánh giá giống cây trồng khoai lang chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên. Các giống được lựa chọn dựa trên khả năng sinh trưởng, năng suất, và chất lượng. Kết quả cho thấy một số giống có tiềm năng phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu sản xuất và thị trường.

5.1. Lựa chọn giống

Quá trình lựa chọn giống dựa trên các tiêu chí về khả năng sinh trưởng, năng suất, và chất lượng. Các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, và khả năng thích nghi với điều kiện địa phương được ưu tiên lựa chọn.

5.2. Đánh giá giống

Đánh giá giống được thực hiện thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất, và chất lượng. Các giống đạt yêu cầu về năng suất và chất lượng được đề xuất để phát triển trong sản xuất.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống khoai lang chất lượng cao vụ đông năm 2013 tại trường đại học nông lâm thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 20 năm đổi mới, nhờ sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bộ mặt nước ta đã có nhiều thay đổi. Việt Nam đã thoát khỏi các nước nghèo trên thế giới, nền kinh tế đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã thu được những thành tựu đáng kể, nhiều sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu với khối lượng lớn mang lại nguồn lợi cho đất nước và cho người sản xuất. Từ một nước thiếu lương thực giờ đây đã trở thành một trong những nước đứng đầu trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Do vậy, chúng ta có điều kiện chú ý hơn vào các cây trồng khác trong đó cây có củ đang ngày một phát triển, đặc biệt là khoai lang. Cây khoai lang (Ipomoea batatas. (L) Lam) là cây có củ, chứa nhiều tinh bột, vị ngọt có thể sử dụng củ để ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột dùng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi, thân lá có thể làm rau xanh, trong công nghệ chế biến (chips, sấy khô, bánh kẹo, tinh bột và rượu.) ngày càng phát triển. Hiện nay trên thế giới cũng như trong nước xu hướng sử dụng khoai lang chất lượng cao trong ăn tươi và sau chế biến ngày càng tăng.

Theo tổ chức FAO của Liên Hợp Quốc đã đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của thế kỷ 21. Những năm qua ở Miền nam và Tây nguyên đã có các mô hình sản xuất khoai lang để xuất khẩu sang thị trường Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan. thu 60 - 70 triệu đ/ha/vụ. Thái Nguyên có điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng rất phù hợp cho cây khoai lang sinh trưởng và phát triển bởi vậy khoai lang là một cây trồng truyền thống và có vị trí quan trọng nhất định trong cơ cấu cây trồng của tỉnh.

Do là một cây trồng đa dụng, rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu, bệnh, chi phí đầu tư trên đơn vị diện tích trồng thấp nhưng cho thu nhập khá thích hợp với nhiều hộ nông dân nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên những năm gần đây diện tích trồng khoai lang của tỉnh đang giảm dần, do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp bởi quá trình đô thị hóa và n 2 việc mở rộng diện tích các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế hơn. Trong khi năng suất, phẩm chất khoai lang vẫn còn chưa cao chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Từ thực tế đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống khoai lang chất lượng cao vụ Đông năm 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.

Mục tiêu của đề tài Nhằm chọn ra một số giống khoai lang có chất lượng tốt năng suất cao phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất và thị hiếu của người tiêu dùng, góp phần phát triển sản xuất khoai lang ở Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Từ kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ xung cơ sở lý luận cho việc phát triển khoai lang vụ Đông ở tỉnh Thái Nguyên cũng như các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn Đánh giá lựa chọn được giống khoai lang có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất phù hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên.

Mở rộng diện tích khoai lang góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây khoai lang Khoai lang [Ipomoea batatas (L.) Lam] là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ bìm bìm (Convolvuaceae) (Purseglove, 1974 [ ]); dẫn theo Nguyễn Viết Hưng và cs, 2010 [13]. Trong số 50 chi và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng, được sử dụng làm lương thực và thực phẩm.

Số loài trong chi Ipomoea đã được xác định là hơn 400 loài nhưng loài Ipomoea batatas là loài cây trồng duy nhất có củ ăn được. Cây khoai lang với thân phát triển lan dài, các lá có nhiều hình dạng khác nhau từ dạng lá đơn đến chia thùy sâu (Mai Thạch Hoành, 1998) [7]. Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ lan dần đến vùng nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, những nước mà cây khoai lang đóng vai trò quan trọng nhất lại là những nước mà cây khoai lang mới du nhập gần đây.

Các thương gia và các nhà thống trị Châu Âu đã mang đến Châu Phi, Châu Á và đông Thái Bình Dương. Cây khoai lang được đưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê (PNG) khoảng 300 đến 400 năm trước (Yen, 1974) [31]. Hầu hết bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ). Bằng chứng lâu đời nhất là những mẫu khoai lang khô thu được tại hang động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy độ tuổi từ 8000 đến 10000 năm (Engel, 1970) [23].

Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang còn được tìm thấy tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2000 năm trước công nguyên (Austin (1977) [21]. Vào năm 1942 trong chuyến vượt biển đầu tiên của Christopher Columbus đã tìm ra tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được trồng ở Hispaniola và Cu Ba. Từ đó, khoai lang mới thực sự lan rộng ở Châu Mỹ và sau đó di thực đi khắp thế giới. Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó tới một số nước Châu Âu và được gọi là Batatas (hoặc Padada) sau đó là Spanish Potato (hoặc sweet potato).

n 4 Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã du nhập cây khoai lang vào Châu Phi (Có thể bắt đầu từ Mô Dăm Bic hoặc Ăngôla) theo hai con đường từ Châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan rộng sang Ấn Độ. Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không phát triển được. Đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc. Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập khoai lang vào Philippin (Yen, 1982) [32] và từ Philippin vào Phúc Kiến (Trung Quốc) năm 1594.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ Ấn Độ hoặc Myanma. Do khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, khoai lang đã được mở rộng ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ la tinh vào thế kỷ 17 và 18. Hiện nay khoai lang được phân bố rộng rãi ở các vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới và vùng ôn đới ẩm thuộc Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á, Châu Âu. từ 40° vĩ Bắc xuống 320 Nam.

Ở vùng xích đạo khoai lang còn được trồng ở độ cao 3000 m so với mặt biển (Woolfe J. Tuy nhiên cây khoai lang vẫn được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới, á nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh. Ở Việt Nam, theo các tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn (Viện Hán Nôm, 1995) [18], (Bùi Huy Đáp 1984 [1], cây khoai lang có nhiều khả năng là cây trồng nhập nội và có thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon ngày nay) vào cuối đời Minh cai trị nước ta. Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: “Cam thự (khoai lang) là củ thuộc loài Thử Dự, rễ và lá như rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nữa bằng cái bình, da tía, thịt trắng, người ta luộc ăn” (Bùi Huy Đáp 1984) [1], (Viện Hán nôm, 1995) [18].

Sách “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (Nhà xuất bản khoa học xã Hội 1987 đã có ghi: “Năm 1559 (năm Mậu ngọ), khoai lang từ Philippin được đưa vào Việt Nam, trồng đầu tiên ở An Trường - thủ đô tạm thời của đời nhà Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”. n 5 Như vậy, khoai lang đã có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng gần 450 năm. Cây khoai lang được giới thiệu vào Việt Nam có thể từ tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc hoặc đảo Luzon - Philippin vào cuối thế kỷ 16 (Vũ Đình Hòa, 1996 [4]). Những đặc tính nông học và yêu cầu ngoại cảnh và đất trồng đối với khoai lang 2.

Đặc tính nông học Theo Bùi Huy Đáp (1984), khi được trồng bằng dây, chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây khoai lang có thể được chia thành 3 thời kỳ nối liền nhau và đan xen nhau: Thời kỳ đầu: Là thời kỳ phát triển của thân lá và bộ rễ có chức năng hút chất dinh dưỡng. Trong thời kỳ này thân dài nhanh, thân chính có thể tăng độ dài từ 1,5 - 2,0cm/ngày; đồng thời nhánh, bộ lá và hệ rễ phát triển để hút nước và hấp thu các chất dinh dưỡng. Mỗi ngày cây có thể ra thêm 3 - 4 lá mới trên thân. Thời kỳ giữa: Là thời kỳ trung gian.

Thân và lá tiếp tục phát triển mạnh nhưng nói chung tốc độ có chậm hơn so với thời kỳ trước. Tốc độ ra lá chậm hơn, và chỉ tiêu rõ rệt nhất là tốc độ tích lũy chất khô của thân, lá chậm lại. Đồng thời rễ củ đã phân hóa và bắt đầu phát triển dần, tốc độ tích lũy chất khô trong củ tăng lên và đến một lúc nào đó trong cùng thời kỳ, trọng lượng chất khô trong củ và trong thân lá tương đương nhau. Thời kỳ này kéo dài khoảng 30 ngày.

Thời kỳ cuối: Là thời kỳ phát triển củ. Thân và lá không phát triển mạnh nữa. Khối lượng chất khô của thân và lá giảm dần, khối lượng chất khô tích lũy vào củ tiếp tục tăng lên. Hiệu suất quang hợp và tích lũy chất khô của cả cây khoai lang cũng đạt cao nhất ở thời kỳ này.

Độ dài của mỗi thời kỳ sinh trưởng dài ngắn khác nhau tùy thuộc vào giống khoai lang và mùa vụ trồng, kể cả chịu tác động của biện pháp kỹ thuật canh tác. Biểu hiện sinh trưởng của thân lá có quan hệ với sự hình thành và phát triển củ khoai lang. Trong điều kiện thuận lợi và không gặp mưa, nếu quan sát thấy khi cây khoai lang có các lá gốc chín vàng và một số lá sát gốc đã rụng, thì khoai lang đã bắt đầu hình thành củ. Củ càng lớn thì các lá ở gốc càng rụng nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển giống khoai lang chất lượng cao vụ đông 2013 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là một tài liệu chuyên sâu về việc đánh giá hiệu quả canh tác giống khoai lang chất lượng cao trong điều kiện vụ đông tại khu vực Thái Nguyên. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về quá trình sinh trưởng, phát triển, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của giống khoai lang. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nông học, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt cây lương thực.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp và quản lý tài nguyên, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện cư mgar tỉnh đắk lắk. Để mở rộng kiến thức về phát triển chuỗi giá trị trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển sản xuất cây dược liệu cà gai leo theo chuỗi giá trị trên địa bàn huyện yên thủy tỉnh hòa bình. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm nông nghiệp, hãy xem Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố bà rịa. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển bền vững.