Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merr) là loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, thức ăn cho ngành chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu công nghiệp và phục vụ xuất khẩu. Về mặt dinh dưỡng, hạt đậu tương chứa hàm lượng protein trung bình từ 38% đến 40% ở dạng dễ tiêu hóa; hàm lượng chất béo thực vật cao với 60% đến 70% là các axit béo chưa no có hệ số đồng hóa cao (axit linoleic chiếm 52% - 65%, oleic từ 25% - 36%, linolenic từ 2% - 3%). Đồng thời, đậu tương có các axit amin chứa lưu huỳnh tương đương trứng gà và hàm lượng lysine cao gấp 1,5 lần so với trứng. Trong nông nghiệp, đậu tương là cây trồng ngắn ngày thích hợp cho các công thức luân canh, xen canh, gối vụ, có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium japonicum để cố định nitơ tự do, bổ sung cho đất khoảng 60 - 80 kg N/ha sau mỗi vụ canh tác (tương đương 300 - 400 kg đạm sunfat), đóng góp tích cực vào việc cải tạo độ phì của đất.

Trên quy mô quốc tế, diện tích trồng đậu tương tăng từ 21 triệu ha (năm 1960) lên 111,27 triệu ha với sản lượng 276,41 triệu tấn vào năm 2013 (theo số liệu FAOSTAT). Ngược lại, tại Việt Nam, diện tích và sản lượng đậu tương trong giai đoạn 2010 - 2014 suy giảm nghiêm trọng. Năm 2014, diện tích gieo trồng cả nước chỉ đạt 109,4 nghìn ha, năng suất 1,43 tấn/ha và sản lượng 156,5 nghìn tấn, giảm 88,4 nghìn ha diện tích và giảm 142 nghìn tấn sản lượng so với năm 2010. Do nguồn cung nội địa thiếu hụt, Việt Nam phải nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lên tới 3,7 tỷ USD mỗi năm, riêng khô dầu đậu tương nhập khẩu đạt 2,7 triệu tấn (tương đương 5,4 triệu tấn hạt). Tại tỉnh Thái Nguyên, diện tích gieo trồng đậu tương cũng giảm từ 1,6 nghìn ha (năm 2010) xuống còn 1,0 nghìn ha (năm 2015), trong khi diện tích đất đồi thấp, đất màu không chủ động nước bị bỏ hoang hoặc canh tác cây trồng kém hiệu quả còn nhiều. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu tập đoàn giống mới có năng suất cao, khả năng thích ứng rộng và ổn định trong điều kiện canh tác cụ thể của từng mùa vụ.

Nhằm giải quyết thực trạng trên, đề tài "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống đậu tương vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên" được thực hiện. Mục đích của nghiên cứu là xác định được giống đậu tương mới cho năng suất cao, thích ứng tốt với điều kiện khí hậu, đất đai vụ Hè Thu tại địa phương. Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm.
  2. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm.
  3. Nghiên cứu khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm.
  4. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực tế của các dòng, giống đậu tương thí nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu gồm 5 dòng/giống đậu tương: DT84 (giống đã công nhận của Viện Di truyền Nông nghiệp), ĐT51 (giống đã công nhận của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ, sử dụng làm đối chứng), cùng 3 dòng triển vọng do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ chọn tạo là ĐT2012, ĐT34 và ĐT22. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành trên đất bãi màu tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (đặc tính đất thịt pha cát, thoát nước tốt, độ phì đồng đều). Phạm vi thời gian nghiên cứu diễn ra trong vụ Hè Thu năm 2016, từ tháng 07/2016 đến tháng 11/2016 (ngày gieo hạt là 14/07/2016).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên mối tương tác giữa kiểu gen và môi trường sống biểu hiện thành kiểu hình (Kiểu gen + Môi trường $\rightarrow$ Kiểu hình). Việc đánh giá tính thích ứng của các giống mới qua khảo nghiệm đồng ruộng là khâu bắt buộc trước khi đưa vào sản xuất đại trà. Khung lý thuyết sinh học cây trồng mô tả hai quá trình đan xen: sinh trưởng sinh dưỡng (phát triển thân, cành, lá, rễ) và sinh trưởng sinh thực (phân hóa mầm hoa, thụ phấn, kết quả, tích lũy vật chất khô vào hạt). Quá trình tích lũy chất khô chịu sự chi phối trực tiếp của phương trình quang hợp tạo sinh khối ($6\text{H}_2\text{O} + 12\text{CO}_2 \rightarrow \text{C}6\text{H}{12}\text{O}_6 + 6\text{H}_2\text{O}$), trong đó diện tích lá quyết định trên 90% lượng vật chất khô tích lũy. Hoạt động cố định đạm sinh học được thực hiện nhờ phản ứng enzyme nitrogenase của vi khuẩn Rhizobium japonicum tại nốt sần hữu hiệu ($\text{N}_2 + 8\text{H}^+ + 8e^- \rightarrow 2\text{NH}_3 + \text{H}_2$).

Phương pháp nghiên cứu áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương (ban hành theo Thông tư số 48/2011/TT-BNNPTNT ngày 05/07/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 5 công thức tương ứng với 5 dòng/giống, lặp lại 3 lần. Kích thước mỗi ô thí nghiệm là 6,8 m² ($1,7\text{ m} \times 4\text{ m}$), rãnh ngăn cách giữa các ô và các lần nhắc lại rộng 30 cm. Tổng diện tích khu thí nghiệm không tính dải bảo vệ là 102 m².
  • Quy trình kỹ thuật canh tác: Mức phân bón cho 1 ha gồm 1 tấn phân chuồng + 30 kg N + 60 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 30 kg $\text{K}_2\text{O}$. Phương thức bón chia làm 2 giai đoạn: bón lót toàn bộ phân chuồng, 100% lân, 50% đạm và 50% kali; bón thúc lượng đạm và kali còn lại kết hợp vun xới lần 1 ở giai đoạn 2 - 3 lá thật. Vun xới lần 2 được thực hiện khi cây đạt 4 - 5 lá thật. Chế độ tưới tiêu nước và phòng trừ dịch hại được thực hiện theo dõi định kỳ 7 ngày/lần.
  • Phương pháp thu thập chỉ tiêu:
    • Chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái: Xác định thời điểm mọc mầm, phân cành, ra hoa, chắc xanh, chín theo tỷ lệ 50% - 90% cá thể trên ô; đo đếm chiều cao cây, chiều cao đóng quả, đường kính gốc thân chính và số cành cấp 1 trên 10 cây mẫu ngẫu nhiên tại thời điểm thu hoạch.
    • Chỉ tiêu sinh lý: Xác định chỉ số diện tích lá (CSDTL) theo phương pháp cân diện tích mẫu bìa quy chuẩn 1 dm²; khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK) bằng phương pháp sấy khô kiệt ở nhiệt độ quy định đến khối lượng không đổi; đếm số lượng và cân trọng lượng nốt sần hữu hiệu (nốt có đường kính $\ge 0,25\text{ mm}$, bên trong có dịch màu hồng chứa leghaemoglobin) tại hai thời kỳ: ra hoa rộ và chắc xanh.
    • Chỉ tiêu sâu bệnh và chống đổ: Điều tra tỷ lệ hại của sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) và sâu đục quả (Etiella zinckenella Treitschke) theo phương pháp 5 điểm chéo góc (10 cây mẫu); đánh giá khả năng chống đổ theo thang điểm từ 1 đến 5.
    • Cấu thành năng suất và năng suất: Đếm số cây thực thu, số quả chắc/cây, số hạt chắc/quả, xác định khối lượng 1000 hạt ($\text{M}_{1000}$) ở độ ẩm tiêu chuẩn 12%; tính toán năng suất lý thuyết (NSLT) và thu hoạch cân hạt thực tế để tính năng suất thực thu (NSTT).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel và SAS, kiểm định sai khác trung bình bằng chuẩn $LSD_{0,05}$ và hệ số biến động $CV%$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tầm quan trọng kinh tế và giá trị nông học của cây đậu tương trong hệ thống luân canh cây trồng ngắn ngày tại Việt Nam. Tác giả phân tích nghịch lý giữa nhu cầu tiêu thụ đạm thực vật, khô dầu thức ăn chăn nuôi ngày càng lớn với tình trạng sụt giảm diện tích gieo trồng đậu tương trong nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Khóa luận xác lập mục tiêu so sánh, tuyển chọn giống đậu tương triển vọng có khả năng sinh trưởng khỏe, kháng sâu bệnh và đạt năng suất hạt cao nhằm bổ sung vào cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu trên đất bãi màu tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả tổng hợp tình hình sản xuất và công tác chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Sản xuất thế giới: Giai đoạn 2010 - 2014, sản lượng đậu tương toàn cầu dao động từ 241,7 đến 306,5 triệu tấn; diện tích tập trung chủ yếu ở châu Mỹ (86,4%), trong đó Mỹ và Brazil chiếm vị trí dẫn đầu về sản lượng xuất khẩu.
  • Nghiên cứu quốc tế: Điểm qua các thành tựu chọn giống đậu tương chịu hạn, kháng bệnh gỉ sắt tại các viện nghiên cứu như AVRDC, INTSOY, các giống đột biến tia gamma tại Ấn Độ (giống AMS-39 cho năng suất 29 g/cây) và công nghệ chuyển gen kháng thuốc trừ cỏ Glyphosate tại Mỹ.
  • Sản xuất và nghiên cứu trong nước: Diện tích đậu tương cả nước giảm từ 198 nghìn ha (năm 2010) xuống 109,4 nghìn ha (năm 2014), năng suất bình quân đạt 14,6 tạ/ha. Tại Thái Nguyên, diện tích giảm từ 1,6 nghìn ha xuống 1,0 nghìn ha. Tác giả tổng kết các công trình phân loại nhóm giống đậu tương theo vụ (vụ Xuân - Đông, chuyên vụ Hè - Hè Thu, và nhóm thích ứng 3 vụ/năm như DT84, DT2001) và các nhóm tính trạng tương quan với năng suất theo nghiên cứu của các tác giả đi trước (Trần Đình Long, Vũ Đình Chính).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thông tin nguồn gốc của 5 giống nghiên cứu, địa bàn thực nghiệm tại phường Quang Vinh (thành phố Thái Nguyên), khung lịch thời vụ gieo trồng từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2016. Tác giả mô tả sơ đồ thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại, quy chuẩn kỹ thuật làm đất, công thức phân bón chi tiết ($1\text{ tấn phân chuồng} + 30\text{ N} + 60\text{ }\text{P}_2\text{O}_5 + 30\text{ }\text{K}_2\text{O}$), phương pháp chăm sóc định kỳ và các công thức toán học đo đạc chỉ số hình thái, CSDTL, KNTLVCK, nốt sần hữu hiệu, năng suất lý thuyết và phương sai SAS.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ các số liệu đo đạc thực nghiệm và phân tích thống kê qua 5 khía cạnh nông học chính:

  1. Thời gian sinh trưởng và các giai đoạn phát dục: Thời gian từ gieo đến mọc mầm kéo dài từ 3 đến 4 ngày; thời kỳ phân cành đạt từ 20 đến 24 ngày sau gieo; thời gian nở hoa từ 34 đến 44 ngày sau gieo. Tổng thời gian sinh trưởng của 5 giống dao động từ 79 đến 96 ngày. Giống DT84 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (79 ngày), thuộc nhóm chín sớm; giống ĐT22 đạt 85 ngày; các giống ĐT51 (93 ngày), ĐT2012 (96 ngày) và ĐT34 (96 ngày) thuộc nhóm chín trung bình.
  2. Đặc điểm hình thái: Chiều cao cây dao động từ 58,10 cm đến 71,77 cm, trong đó DT84 cao nhất (71,77 cm), ĐT22 thấp nhất (58,10 cm). Số cành cấp 1 đạt từ 2,50 đến 3,60 cành/cây, giống ĐT2012 có số cành cấp 1 cao nhất (3,60 cành), sai khác có ý nghĩa thống kê so với các giống còn lại. Chiều cao đóng quả thấp nhất ở giống ĐT22 (11,30 cm) và cao nhất ở giống ĐT2012 (16,02 cm). Đường kính thân dao động từ 4,47 mm (ĐT22) đến 7,40 mm (ĐT2012). Số đốt trên thân dao động từ 12,73 đốt (ĐT22) đến 16,20 đốt (DT84).
  3. Chỉ tiêu sinh lý:
    • CSDTL ở thời kỳ ra hoa rộ đạt từ 3,08 đến 4,41 m² lá/m² đất; đến thời kỳ chắc xanh tăng lên 3,15 - 4,47 m² lá/m² đất (dòng ĐT2012 luôn đạt CSDTL cao nhất ở cả 2 giai đoạn).
    • Khả năng tích lũy vật chất khô ở thời kỳ chắc xanh cao nhất ở giống ĐT2012 (28,69 g/cây) và ĐT51 (27,95 g/cây), thấp nhất ở giống ĐT22 (21,69 g/cây).
    • Về khả năng hình thành nốt sần, dòng ĐT34 đạt số lượng nốt sần hữu hiệu và khối lượng nốt sần cao nhất ở cả hai giai đoạn: thời kỳ hoa rộ đạt 16,56 nốt/cây (0,56 g/cây) và thời kỳ chắc xanh đạt 59,56 nốt/cây (1,86 g/cây). Dòng ĐT22 có số lượng nốt sần thấp nhất (thời kỳ chắc xanh đạt 20,00 nốt/cây; 0,72 g/cây).
  4. Khả năng chống chịu sâu hại và chống đổ: Tỷ lệ hại của sâu cuốn lá ở các giống dao động trong khoảng 6,26% đến 7,66% (chênh lệch không có ý nghĩa thống kê ở mức $P < 0,05$). Tỷ lệ quả bị sâu đục dao động từ 4,03% (ĐT34) đến 5,37% (ĐT22). Khả năng chống đổ của các giống đều đạt điểm 1 đến 2 trên thang điểm 5, trong đó giống ĐT22 đạt điểm 1 (chống đổ tốt nhất nhờ thân thấp).
  5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Số quả chắc/cây dao động từ 40,67 đến 61,80 quả/cây, ĐT2012 vượt trội với 61,80 quả/cây. Số hạt chắc/quả dao động từ 2,41 hạt (DT84) đến 2,81 hạt (ĐT34). Khối lượng 1000 hạt đạt từ 150,93 g (ĐT22) đến 178,80 g (ĐT2012). Dòng ĐT2012 đạt năng suất lý thuyết 62,55 tạ/ha và năng suất thực thu cao nhất đạt 33,09 tạ/ha, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng ĐT51 (22,06 tạ/ha).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết các đặc tính sinh trưởng, khả năng chống chịu và kết quả năng suất của 5 dòng/giống; chính thức đề xuất giống đậu tương ĐT2012 là đối tượng triển vọng nhất để tiếp tục khảo nghiệm diện rộng và đưa vào cơ cấu sản xuất vụ Hè Thu tại Thái Nguyên. Đồng thời, tác giả đề xuất tiếp tục hoàn thiện quy trình phòng trừ dịch hại sâu cuốn lá và sâu đục quả trong sản xuất thực tế.


Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về đặc tính nông học của các dòng/giống đậu tương khảo nghiệm trong vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu nông học và năng suất của các giống thí nghiệm

Tên giống/dòng TGST (ngày) Chiều cao cây (cm) Số cành cấp 1 (cành) CSDTL chắc xanh ($\text{m}^2/\text{m}^2$) Nốt sần chắc xanh (nốt/cây) Tỷ lệ sâu đục quả (%) $\text{M}_{1000}$ (g) NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha)
DT84 79 71,77 2,83 4,30 31,20 4,49 171,83 42,20 21,08
ĐT2012 96 66,97 3,60 4,47 35,89 4,63 178,80 62,55 33,09
ĐT51 (Đ/C) 93 60,67 2,50 4,17 47,67 4,93 171,67 53,09 22,06
ĐT34 96 64,07 2,73 3,15 59,56 4,03 178,30 54,51 21,57
ĐT22 85 58,10 2,63 3,40 20,00 5,37 150,93 40,00 18,87
$LSD_{0,05}$ - - - 0,30 3,93 - 4,17 3,11 2,02
$CV (%)$ - 7,23 13,22 3,95 5,38 - 1,30 3,28 4,60

Đóng góp thực tiễn và giải pháp kỹ thuật đề xuất

  • Xác định giống triển vọng: Khóa luận chứng minh dòng đậu tương ĐT2012 có khả năng sinh trưởng vượt trội trong vụ Hè Thu tại Thái Nguyên với số cành cấp 1 đạt 3,60 cành; số quả chắc đạt 61,80 quả/cây; khối lượng 1000 hạt đạt 178,80 g; năng suất thực thu đạt 33,09 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng ĐT51 tới 11,03 tạ/ha (tương đương mức vượt 50,0%) với sai khác tin cậy ở mức xác suất $P < 0,05$.
  • Đặc tính cố định đạm: Xác định dòng ĐT34 có khả năng cộng sinh hình thành nốt sần hữu hiệu cao nhất (59,56 nốt/cây và khối lượng nốt sần 1,86 g/cây ở thời kỳ chắc xanh), thể hiện tiềm năng tốt cho việc cải tạo đất bãi và luân canh cải tạo độ phì.
  • Đặc tính né tránh thời tiết: Xác định giống DT84 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (79 ngày), giúp giải phóng đất sớm, tạo điều kiện gối vụ kịp thời cho cây trồng vụ Đông.
  • Khuyến nghị canh tác: Đề xuất tiếp tục đưa dòng ĐT2012 vào khảo nghiệm diện rộng tại các vùng đất bãi, đất màu đồi thấp tại Thái Nguyên; đồng thời kiến nghị người sản xuất cần chủ động điều tiết tưới tiêu trong các giai đoạn mẫn cảm (trước ra hoa và tạo hạt), kết hợp phòng trừ sâu cuốn lá và sâu đục quả ngay khi mật độ đạt ngưỡng kinh tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thí nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi một vụ gieo trồng duy nhất (vụ Hè Thu năm 2016) và trên một địa bàn chân đất cụ thể tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên. Do đó, các phản ứng về tính ổn định năng suất và mức độ tương tác kiểu gen - thời tiết qua nhiều mùa vụ khác nhau chưa được kiểm chứng đầy đủ. Bên cạnh đó, thời tiết vụ Hè Thu 2016 có mưa nhiều và bão trong giai đoạn nở hoa, làm ảnh hưởng phần nào đến tỷ lệ đậu hạt tự nhiên của các giống.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận đề nghị tiếp tục khảo nghiệm dòng ĐT2012 trên diện tích rộng hơn và lặp lại qua các vụ Hè Thu tiếp theo tại các vùng sinh thái đất bãi màu khác nhau trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; đồng thời nghiên cứu bổ sung mật độ gieo trồng và liều lượng phân bón tối ưu cho riêng dòng đậu tương này.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Chọn giống cây trồng và Khuyến nông:

  • Phương pháp luận: Cung cấp quy trình chi tiết về phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), kỹ thuật đo đếm các chỉ tiêu sinh lý đặc thù ở cây họ đậu (CSDTL, phương pháp tách đếm và đánh giá phẩm chất nốt sần hữu hiệu qua màu sắc leghaemoglobin, cân đo tích lũy chất khô qua sấy kiệt).
  • Cơ sở dữ liệu: Cung cấp thông số đối sánh thực nghiệm về năng suất, chỉ số hình thái và đặc tính chống chịu sâu bệnh của các dòng đậu tương chọn tạo mới (ĐT2012, ĐT34, ĐT22) so với các giống đối chứng đã phổ biến (DT84, ĐT51).
  • Ứng dụng thực tiễn: Làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nông nghiệp địa phương, trạm khuyến nông trong công tác quy hoạch cơ cấu cây trồng vụ Hè Thu và chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời gian sinh trưởng của các giống đậu tương trong thí nghiệm phân hóa như thế nào?

Tổng thời gian sinh trưởng của 5 giống dao động từ 79 đến 96 ngày. Giống DT84 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 79 ngày (chín trước đối chứng ĐT51 là 14 ngày), tiếp đến là ĐT22 với 85 ngày. Giống đối chứng ĐT51 chín ở 93 ngày. Hai giống ĐT2012 và ĐT34 có thời gian sinh trưởng dài nhất, cùng đạt 96 ngày (chín sau đối chứng 3 ngày).

2. Dòng/giống nào đạt năng suất thực thu cao nhất và chênh lệch bao nhiêu so với đối chứng?

Dòng ĐT2012 đạt năng suất thực thu cao nhất với 33,09 tạ/ha. Năng suất này cao hơn giống đối chứng ĐT51 (đạt 22,06 tạ/ha) là 11,03 tạ/ha, và cao hơn giống có năng suất thấp nhất là ĐT22 (18,87 tạ/ha) tới 14,22 tạ/ha. Sự sai khác này đạt mức tin cậy thống kê với giá trị $LSD_{0,05} = 2,02\text{ tạ/ha}$.

3. Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của các giống thể hiện sự khác biệt ra sao ở giai đoạn chắc xanh?

Ở giai đoạn chắc xanh, số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu của các giống đều tăng mạnh so với thời kỳ hoa rộ. Dòng ĐT34 hình thành số lượng nốt sần hữu hiệu cao nhất với 59,56 nốt/cây và khối lượng nốt sần đạt 1,86 g/cây. ĐT51 đạt 47,67 nốt/cây (1,63 g/cây); ĐT2012 đạt 35,89 nốt/cây (1,11 g/cây); DT84 đạt 31,20 nốt/cây (0,83 g/cây); và dòng ĐT22 có số lượng nốt sần thấp nhất đạt 20,00 nốt/cây (0,72 g/cây).

4. Mức độ gây hại của sâu cuốn lá và sâu đục quả trên các giống thí nghiệm được ghi nhận như thế nào?

Sâu hại xuất hiện chủ yếu là sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.) và sâu đục quả (Etiella zinckenella Treitschke). Tỷ lệ lá bị sâu cuốn lá gây hại dao động từ 6,26% (ĐT2012) đến 7,66% (ĐT22), giữa các giống không có sai khác lớn. Tỷ lệ quả bị sâu đục dao động từ 4,03% (ĐT34) đến 5,37% (ĐT22). Cả 5 giống đều không thể hiện tính kháng hoàn toàn với hai loài sâu hại này.

5. Yếu tố hình thái nào giúp dòng ĐT22 đạt điểm chống đổ tốt nhất?

Khả năng chống đổ được đánh giá theo thang điểm từ 1 đến 5. Dòng ĐT22 đạt điểm 1 (chống đổ tốt nhất), trong khi 4 giống còn lại đạt điểm 2. Khả năng chống đổ tốt của ĐT22 gắn liền với đặc điểm hình thái thân thấp: chiều cao cây khi thu hoạch của ĐT22 chỉ đạt 58,10 cm (thấp nhất trong 5 giống) và chiều cao đóng quả thấp nhất (11,30 cm), giúp cây ít bị gãy đổ khi gặp mưa bão.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hường đã thực hiện khảo nghiệm so sánh đồng ruộng hoàn chỉnh cho 5 dòng/giống đậu tương trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2016 tại thành phố Thái Nguyên theo tiêu chuẩn QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT. Kết quả nghiên cứu xác định dòng triển vọng ĐT2012 có các chỉ tiêu sinh trưởng, diện tích lá, cấu thành năng suất và năng suất thực thu (33,09 tạ/ha) vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng ĐT51 và các giống còn lại. Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm tin cậy phục vụ định hướng tuyển chọn giống cây trồng ngắn ngày có năng suất cao, góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất bãi màu và cải thiện hiệu quả canh tác nông nghiệp tại địa phương.