Đặt vấn đề Cây đậu tương (Glycinemax (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của đậu tương cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999)[2]. Cây đậu tương là một trong những loại cây lương thực, thực phẩm có vai trò quan trọng trong đời sống con người, đứng ở vị trí thứ tư sau lúa mỳ, lúa nước và ngô.Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao với hàm lượng protein trung bình từ 38 - 40%.Protein của đậu tương lại dễ tiêu hoá đối với cơ thể (Ngô Đức Dương, Lê Song Dự, 1998).
Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng. Lipit của đậu tương chứa một tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng 60 - 70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52 - 65%, oleic từ 25 - 36%, linolenolic khoảng 2 - 3% (Ngô Thê Dân và cs, 1999)[2]. Hàm lượng axit quan trọng chứa lưu huỳnh như methionine, cysteine trong đậu tương cao gần bằng trong trứng gà; hàm lượng lysine cao gấp 1,5 lần trong trứng…Trong đậu tương còn có nhiều loại vitamin như A, B, C, D, PP… đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm có rất nhiều vitamin C. Từ hạt đậu tương người ta còn có thể chế biến được trên 600 sản phẩm khác nhau, từ những sản phẩm truyền thống đến hiện đại dưới các dạng như lên men, làm khô như đậu phụ, giá đậu tương, tương bần, sữa đậu nành, xì dầu… n 2 Trong y học, đậu tương được coi như một loại thực phẩm cứu tinh cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và cao huyết áp; các chất genistein, isoflavone có nhiều trong hạt đậu nành có đặc tính chống oxy hóa giúp ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư.
Ở phụ nữ, nó sẽ có tác động trong việc phòng ngừa ung thư vú trong khi ở nam giới là ung thư tuyến tiền liệt…(https://khoahoc. Trong công nghiệp, đậu tương là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như ép dầu, chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn… (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[4]. Ngoài ra cây đậu tương còn có khả năng cố định Nitơ tự do nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium Japonicum. Sau mỗi vụ trồng, đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80 kg N/ha tương đương với 300 - 400 kg đạm sunfat.
Do vậy cây đậu tương ngoài giá trị kinh tế còn là cây cải tạo đất rất tốt. Năm 1960 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 21 triệu ha thì đến năm 2013 đã tăng lên đạt 111,27 triệu ha, năng suất đạt 24,84 tạ/ha, sản lượng đạt 276,41 triệu tấn (FAOSTAT, 2017)[10]. Tại Việt Nam, diện tích trồng đậu tương trong thời gian qua bị giảm sút nghiêm trọng. Năm 2014, theo thống kê sơ bộ diện tích đậu tương Việt Nam đạt 109,4 ngàn ha, năng suất 1,43 tấn/ha, sản lượng 156,5 nghìn tấn; so với năm 2010 diện tích gieo trồng cả nước giảm 88,4 nghìn ha và sản lượng giảm 142 nghìn tấn (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2017)[14].
Hàng năm, Việt Nam phải nhập nguồn nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc với tổng giá trị lên đến 3,7 tỷ USD, trong đó riêng khô dầu đậu tương đã có 2,7 triệu tấn (tương đượng 5,4triệu tấn hạt), gấp gần 20 lần so với sản lượng sản xuất được tại Việt Nam. n 3 Để giải quyết bài toán nhập khẩu, đòi hỏi chúng ta phải có bộ giống đa dạng năng suất cao, khả năng thích ứng rộng có thể trồng được 3 vụ/năm; Điều này không chỉ góp phần tăng diện tích, năng suất và sản lượng mà nó còn mang ý nghĩa xã hội, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập tạo sự phát triển bền vững. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống đậu tương vụ Hè Thu năm 2106 tại Thái Nguyên ” 1. Mục đích nghiên cứu Xác định được giống đậu tương mới cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện canh tác vụ Hè Thu tại Thái Nguyên.
Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống đậu tương. - Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lí của các dòng, giống đậu tương. - Nghiên cứu về khả năng chống chịu của một số dòng, giống đậu tương. - Nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số.
giống đậu tương. Ý nghĩa của đề tài - Kế t quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở khoa ho ̣c xác đinh ̣ giố ng đ ậu tương thích hợp tại Thái Nguyên. - Kế t quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập. - Bổ sung giống đậu tương mới cho năng suất cao và ổn định phù hợp với điều kiện canh tác vụ Hè Thu tại Thái Nguyên.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học Điều kiện ngoại cảnh có liên quan mật thiết tới cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng, nó ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lí sinh hóa của cây. Sự biểu hiện kiểu hình ra bên ngoài chính là kết quả của sự tác động giữa kiểu gen cây trồng quy định và môi trường sống.
Kiểu gen + môi trường => kiểu hình. Do vậy, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Để được có những giống đó thì công tác so sánh, đánh giá là việc làm cần thiết không thể thiếu ,đồng thời quyết định sự thành công của công tác chọn tạo giống - một công tác đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nền Nông Nghiệp Việt Nam nói chung và nền Nông Nghiệp ở Thái Nguyên nói riêng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác.
Nếu những giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở tỉnh Thái Nguyên, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp. Do đó, nên đưa cây đậu tương vào sản xuất ở các vùng này nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhưng khả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam (Ths. Ma Thị Phương, 2004)[4]. Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương. Ở Châu Á chủ yếu tập trung ở Châu Mỹ với 86,4% diện tích, ở Châu Á có 10,6% diện tích và 3% còn lại ở Châu Âu và Châu Phi (FAOSTAT, 2017)[10].
Vì vậy cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất.Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới giai đooạn năm 2010 - 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ / ha) (triệu tấn) 2009 993,2 22,5 223,4 2010 102,8 25,8 265,0 2011 103,9 25,2 261,6 2012 105,5 22,9 241,7 2013 111,2 25,0 277,7 2014 117,5 26,1 306,5 (Nguồn:FAOSTAT, 2017)[10] n 6 Qua bảng trên ta thấy: Về diện tích: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới đang có xu hướng tăngđều qua các năm, năm 2009 (99,3), năm 2010 (102,9), năm 2011 (103,9), năm 2012 (105,5) và có xu hướng tăng hơn năm 2013 (111,2), năm 2014(117,5). Sau 4 năm, diện tích trồng đậu tương tăng 18,2 triệu ha, tương đương 18,4%, so với những năm 2009. Có thể nhận thấy xu hướng diện tích trồng đậu tương sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới. Về năng suất: Trong giai đoạn này năng suất có nhiều biến động, tăng giảm không theo một hướng.
Nhìn chung năng suất đậu tương trong 6 năm gần đây nhất luôn nằm trong khoảng từ 22 đến 26 tạ/ha. Năm 2009 là năm có năng suất thấp hơn cả, đạt 22,5 tạ/ha, năm 2014 có năng suất đạt cao nhất là 26,1 tạ/ha. Về sản lượng: Do năng suất dao động nên sản lượng đậu tương trong những năm gần đây cũng có những biến động đáng kể và dao động trong khoảng từ 223,4 - 306,5 tạ/ha. Nhìn chung sản lượng đậu tương năm 2014 có xu hướng tăng so với năm 2009 và tăng 83,2 tạ/ha.
Sản lượng trồng đậu tương tăng nhanh như vậy nguyên nhân là do diện tích trồng đậu tương trong những năm gần đây cũng tăng lên và do người trồng đậu tương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất. Trên thế giới, sản xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở những nước như Mỹ, Brazil, Trung Quốc và Achentina (Phạm Văn Thiều, 1996)[8]. Đậu tương được trồng nhiều ở Châu Mỹ chiếm tới 86,4% diện tích trồng đậu tương trên toàn thế giới, tiêu biểu như các nước Mỹ, Brazil; Châu Á với 10,6% diện tích canh tác đậu tương lại tập trung chủ yếu ở Trung Quốc. Phần lớn sản lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc, hoặc để xuất khẩu, mặc dù lượng đậu tương tiêu thụ ở người dân Mỹ đang tăng lên.
n 7 Đậu tương đối với Mỹ được coi là mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thu ngoại tệ.