Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại và phân bố cây khoai lang 1. Nguồn gốc và phân loại Cây khoai lang có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới Châu Mỹ, nó được con người trồng cách đây trên 5. Khoai lang được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe.
Nó cũng được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người Phương tây tới Polynesia. Cây khoai lang được đưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê khoảng 300 - 400 năm trước (Yên, D. Hầu hết, các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang. Bằng chứng lâu đời nhất là những mẫu khoai lang khô thu được từ hang động Cilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ 8.
Ngoài ra, các nhà khảo cổ học về cây khoai lang còn được tìm thấy tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2.000 năm trước công nguyên (Ugent, TPozrski (1983) [65], AustinD.E(1982)[59], và cây khoai lang thực sự được lan rộng ra sản xuất ở Châu Mỹ, khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân tới. Cây khoai lang (Ipomoea batatas (Lam)) là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ Bìm Bìm Convolvulaceae, Purseglove J.W(1974) [49]; Võ Văn Chi và cs, (1969)[1], Khoai lang là một loài cây nông nghiệp có các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang và nó là một nguồn cung cấp rau, củ quan trọng, được sử dụng ở cả hai vai trò là rau ăn và lương thực. Các giống khoai lang trồng phổ biến hiện nay là thuộc loài Ipomoea n 5 batatas, thuộc thể lục bội có bộ nhiễm sắc thể 2n = 6X = 90, với bộ nhiễm sắc thể cơ bản là X = 15. Khoai lang là loài cây thân thảo dạng dây leo sống lâu năm, có các lá mọc so le, hình dạng lá phần lớn là hình tim hay sẻ thùy chân vịt.
Các hoa khoai lang có tràng hợp và kích thước loại trung bình (Mai Thạch Hoành, (1998) [17]. Rễ củ ăn được, có hình dáng không ổn định thường là thuôn dài và thon, lớp vỏ nhẵn nhụi có màu từ đỏ, tím, nâu, kem đến trắng là tuỳ thuộc và các giống khác nhau và từng điều kiện sống. Lớp cùi thịt có màu từ trắng, kem, vàng nghệ, cam hay đốm tím. và có khả năng đề kháng với sâu bệnh theo từng giống và điều kiện sống (Woolfe, J.
Phân bố Cây khoai lang được trồng trong phạm vi rộng lớn giữa vĩ tuyến 400 Bắc đến 320 Nam và khoai lang cũng được trồng ở độ cao 3.000 m so với mặt nước biển (Woofe J. Tuy nhiên, cây khoai lang vẫn được trồng nhiều ở các nước Nhiệt đới, á nhiệt đới, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh và cả các vùng ôn đới nhờ tính thích ứng rộng của chúng. Vào năm 1942 trong chuyến vượt biển đầu tiên của Christopher Clumbus đã tìm ra tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được trồng ở Hispaniola và Cuba. Từ đó khoai lang mới thực sự được lan rộng ở Châu mỹ và các vùng ôn đới khác, sau đó được di thực đi khắp các vùng khác nhau trên thế giới.
Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số nước Châu Âu và được gọi là Batatas hoặc (Padada), sau đó là Spanish Potato hoặc (Sweet Potato). Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã du nhập cây khoai lang vào Châu Phi theo 2 con đường là từ Châu Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau lan sang Ấn Độ. n 6 Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập cây khoai lang vào Philippin (Yên, D. Và từ Philippin vào Phúc Kiến Trung Quốc năm 1954, ngoài ra cũng có ý kiến cho rằng khoai lang có thể vào Trung Quốc sớm hơn từ ấn độ hoặc Myanma, vào những năm 1563 (Ho at all, 1994) [41].
Người Anh đã đưa khoai lang vào Nhật Bản năm 1615 nhưng đã không phát triển được, đến năm 1674 cây khoai lang đã được tái nhập vào Nhật bản từ Trung Quốc. Ở nước ta khoai lang có thể được du nhập vào khoảng cuối thế kỷ XVI từ Phúc Kiến Trung Quốc (Vũ Đình Hòa, 1997) [54]. Theo các tài liệu cổ xưa thì cây khoai lang gần như chắc chắn là cây trồng nhập nội và có thể được đưa và nước ta từ đảo Luzon, Philippin vào khoảng cuối đời nhà Minh (Viện Hán Nôm, 1995) [31]. Sách Biên niên lịch sử Cổ Trung đại Việt Nam (1987) [28] có ghi: “Năm 1558 (năm mậu ngọ), khoai lang từ Philippin được đưa vào nước ta, trồng đầu tiên ở An Trường, thủ đô tạm thời của đời Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa’’.
Như vậy, khoai lang đã có mặt và gắn bó với đời sống người dân ở nước ta cách đây khoảng 300 - 400 năm. Đặc tính sinh vật học và yêu cầu sinh thái của cây khoai lang 1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây khoai lang Khoai lang là cây trồng có khả năng sinh sản hữu tính bằng hạt hay sinh sản vô tính (Martin F. Khoai lang có thể nhân vô tính rất dễ dàng ở các dạng: bằng đoạn thân, đoạn cành, bằng ngọn và bằng củ.
Tuy nhiên, sử dụng phương pháp nhân vô tính thường xuyên và lâu dài có thể làm cho giống bị thoái hóa, do ảnh hưởng của môi trường và sự xâm nhập của vi khuẩn, vi rút phá hoại làm cho sức sống bị suy giảm Cây khoai lang sinh trưởng thích hợp với độ dài ngày, ngày ngắn là điều kiện thích hợp cho quá trình phát triển, phát dục của cây khoai lang. Tuy n 7 nhiên, các giống khác nhau có sự phản ứng khác nhau với điều kiện sống lên phát dục ra hoa khác nhau. Một số giống ra hoa ở mùa vụ Xuân, Thu và Đông, một số giống chỉ ra hoa trong điều kiện ngày ngắn (vụ Đông), trong khi đó một số giống lại không và khó ra hoa trong bất kỳ điều kiện mùa vụ khác nhau. Theo các nhà nghiên cứu khoai lang trước đây cho rằng cây khoai lang từ trồng đến khi thu hoạch có thể trải qua 4 thời kỳ sinh trưởng và phát triển: mọc mầm ra rễ, sinh trưởng thân lá, phân cành kết củ và phình to của củ.
Sự sinh trưởng và phát triển đó chủ yếu bao gồm các quá trình sinh trưởng phát triển thân lá và rễ củ. Giữa các thời kỳ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Lúc bắt đầu chuyển sang thời kỳ phát triển mạnh về thân lá cũng là lúc mà rễ củ được phân hóa hình thành nhiều nhất, lúc thân lá phát triển đến mức cao nhất thì sự hình thành rễ củ giảm dần, và lúc đó được xem như số củ trên một dây cơ bản đã được ổn định, hai thời kỳ này có mối quan hệ mật thiết với nhau, vừa có tác dụng xúc tiến vừa có tác dụng khống chế lẫn nhau. Các thời kỳ sinh trưởng, phát triển này chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh và có mối liên quan chặt chẽ tới các yếu tố tạo thành năng suất cây khoai lang.
Thời kỳ mọc mầm ra rễ nếu điều kiện nhiệt độ cao, độ ẩm đầy đủ, đất tơi xốp, chất lượng dây giống tốt là những yếu tố đảm bảo cho quá trình mọc mầm ra rễ thuận lợi, tỉ lệ dây sống cao. Vì vậy xác định thời vụ và mật độ trồng thích hợp là hai biện pháp quan trọng quyết định đến số cây/đơn vị diện tích. Thời kỳ phân cành kết củ, sự hình thành của rễ con đã giảm yếu, sinh trưởng thân lá dần dần tăng nhanh, bắt đầu xuất hiện hình thành nhiều cành nhánh, củ tiếp tục phân hóa hình thành, có một số củ đã biểu hiện rõ hiện tượng phình lớn lên, đến hết giai đoạn này số củ đã có xu hướng ổn định. Thời kỳ sinh trưởng thân lá nếu nhiệt độ cao, đất đủ ẩm là điều kiện tốt nhất.
Ở thời kỳ này khoai đã phủ kín luống, sau đó dần dần giảm xuống, trọng n 8 lượng củ bắt đầu tăng nhanh rõ ràng có thể đạt được 30-40% tổng trọng lượng củ lúc thu hoạch. Giai đoạn lớn lên của củ, giai đoạn này sinh trưởng thân lá chậm dần, ngừng hẳn và đi đến giảm sút, lá xuống mã, cằn vàng do dinh dưỡng đã vận chuyển xuống củ. Trong lúc đó trọng lượng củ tăng lên rất nhanh. Điều kiện ngoại cảnh tốt nhất cho giai đoạn này là nhiệt độ và độ ẩm không quá cao, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa bề mặt luống khoai và độ sâu 10 - 30cm chênh lệch nhau rõ rệt thì có lợi cho sự phình to của củ.
Nếu nhiệt độ cao quá, mưa nhiều, nhất là trong điều kiện đất đai phì nhiêu, giàu đạm thì thân lá sẽ bốc mạnh, ức chế quá trình tập trung chất vào củ. Gần đây nhiều nhà chọn giống và sinh lý khoai lang đã đi đến thống nhất là: Giống khoai lang có 3 nhóm giống chính (Mai Thạch Hoành, 1998) [17]. - Nhóm giống lấy củ: Cho năng suất củ cao thường có phát triển củ sớm và mạnh, có T/R <1 sớm và kéo dài. - Nhóm giống lấy thân lá: cho năng suất thân lá cao, củ ít thường có sinh trưởng thân lá mạnh và kéo dài, ra củ chậm và phát triển củ kém và muộn, nên đạt T/R > 1 sớm và kéo dài.
- Nhóm giống trung gian: có sinh trưởng thân lá vừa và gọn, ra củ sớm, tích luỹ củ kéo dài nên có tỷ số T/R đạt cao hơn 2 nhóm trên và xấp xỉ gần bằng 1. Sinh trưởng thân lá và phát triển củ là 2 thời kỳ quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau ở cây khoai lang lấy củ. Vừa có tác dụng xúc tiến vừa có tác dụng khống chế lẫn nhau. Đó là mối quan hệ giữa thân lá và rễ củ, giữa bộ phận trên mặt đất và bộ phận dưới mặt đất và được biểu hiện bằng trị số T/R.
Để khoai lang sinh trưởng phát triển tốt cần điều khiển cho tỉ lệ T/R tăng hay giảm phù hợp với từng đặc tính của từng loại giống. n 9 Tùy thuộc vào từng loại giống, giống lấy dây hay giống lấy củ là chủ yếu mà tỉ lệ T/R biến đổi khác nhau: Với giống lấy thân lá là chủ yếu thì tỉ lệ T/R sớm đạt giá trị lớn hơn 1, nghĩa là khối lượng thân lá lớn hơn khối lượng rễ củ.