ĐẶT VẤN ĐỀ. gia TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ở việt Nam.
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 1. Đặc điểm sinh thái học 1. Đặc tính sinh vật học. Giá trị sử dụng.
nặn MỤC TIÊU, L NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG NtNGHIÊN cứu. Mục tiêu nghiên cứu. Đặc điểm của Luỗồng thuộc đổi tượng, nghiên cứu 2. Nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu 2. Kế thừa tài itn Ay 2. Phương pháp ngoái ghiệp vn© „l2 2. Điều tra tình Hình sinh trưởng của Luồng.cây bụi thảm tươi.
Phương pháp nội nghiệp. Vị trí địa lý 3. Địa hình, se 3. Địa chất, thỏ nhưỡng.
Khí hậu thủy văn. Các nguồn tài nguyên 8.TàIñBuyÊHBHỚG co eeersnsisaiemade 3. Tai nguyén rimg. Tài nguyên khoáng sản.
Kinh tế - xã hội. Dân số và nguồn lao động. Chương 4 KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. Kết quả nghiên cứu tình hình cây bụi th: 4.
Đề xuất biện pháp thâm canh rừng L\ ~ 5. DANH MUC MAU BIEU, BIEU Mẫu biểu 01: Biểu điều tra rừng Luồng Mẫu biểu 02: Điều tra cây bụi Biểu 4.1: Sinh trưởng D¡.; của Luỗng tại 2 mô hình.2: Kiểm tra sự sai khác về đường kính bình quân Biển 4.3: mhbh Hlng alia cao Hvn của Hư tại 2 DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 4.1: So sánh sinh trưởng đường kính (D;;) giữa hai mô hình .2: So sánh sinh trưởng chiều cao (Hvn) giữa hai mô hình.3: So sánh tỷ lệ phẩm chất giửa hai mô hình.-------- 33 DAT VAN DE Rừng là một loại đệm đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, duy trì hệ sinh thái toàn cầu, những chức năng sinh thái quan trọng nhất của rừng là điều hòa khí hậu, giữ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất. Rừng và tài nguyên rừng từ xa xưa đã gắn bó chặt chẽ với đời sống con. Nhân dân 'Việt Nam ta từ các thế hệ trước đã bảo vệ và sử dụng nguyện.
rừng để đảm bảo cho nhu cầu mưu sinh của mình về lương thực , lỰCc phần, thuốc men, gỗ làm nhà và củi đốt. Đây là loài cây ưa ẩm, ưa sáng mọc nhanh, có nhiều công dụng đối với đời sống con người. Mặt khác chu kỳ kinh doanh ngắn, có thể khai thác cho sản phẩm hàng năm, là loài cây đa tác dụng và hiện nay được gây trồng rộng rãi, có giá trị kinh tế cao. Luỗồng được phân bốkhá To Việt Nam nhưng tỏ ra rất phù hợp với điều kiện lập địa tại tỉnhThanh Hóa, là noi có diện tích rừng.
Luéng lớn nhất cả nước Việt Nam với trên 70.000 has rừng Ludng các loại, có thể nói nơi đây là một “xứ Luỗồng”. Người dân nơi-đây gọi cây Luỗồng là “Cây xóa đói giảm signee" Lang Chánh là mot trong những huyện điển hình có diện tích lớn đất bơi đây được mệnh danh là ““vua Luồng xứ Thanh”. Mặc tích lớn rừng Luông. Tuy nhiên năng suất và chất lượng rừng lấp, hiện nay đang trên đà suy thoái, giảm cả về chất và lượng, do ấu trọng các biện pháp kỹ thuật canh tác, hiện tại vẫn chưa tìm ra phương thức canh tác nào là phù hợp và cho năng suất cao, [Lê Nam, Ngọc Chi, 2010].
Xuất phát từ thực tế trên thì việc tìm ra phương thức canh tác phù hợp nhằm làm tăng năng suất, chất lượng rừng Luồng là vấn đề cấp thiết để hướng tới mục đích kinh doanh và lợi dụng rừng Luồng một cách lâu dài, bền vững và ổn định. Đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng Ludng (Dendrocalamuss membranaceus Munro) thuần loài theo các phương thức canh tác khác nhau tại huyện Lang Chánh - Thanh Hóa” được thực hiện nhằm góp phần giải quyết nhu cầu thực tế trên. = Chuong 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Tinh hình nghiên cứu trên thế giới Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á.
Ở các nước này người dân đã biết sử Gong tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, 'công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy SỢI, công, nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng kiến trúc, øiao thông vận tải.Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon đã trởthành, đối tôn cung cấp thực phẩm có giá trị. s Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này nên tre trúc là đối tượng được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu về nhiều mặt như: Chọn giống, gây trồng, khai thác, sử đụn Gan đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mổ hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng, theo muc đích sử dụng nhất định.
Từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, Khai thác:, Như công trình nghiên cứu của IJ.Huberman, UAung Dig với tên “Rừng tre nứa” được FAO (Food and Agriculture Organization) xuất bản năm 1959, công trình đã cung cấp rất nhiều é & Me công trình này chỉ công bố về các thuộc tính tự xã Ueda xuất bản cuốn “Sinh lý tre trúc”. Theo giáo sư người Nhật Ban này thì trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 47 giống họ Bambusaceae, trong đó Châu Á có 37 chỉ, Châu Mỹ có 10 chi, Châu phi có 10 chỉ. Tác giả củng cho biết Đông Nam Á là vùng trung tâm phân bố của tre trúc. Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thé giới là trường đại học Kyoto Nhật Bản.
các mẫu đưa vào nghiên cứa ở đây được thu thập từ khắp nơi trên lãnh thô Nhật Bản. Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc. Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vượt qua lãnh thổ quốc gia, điển hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các vùng lân cận, công trình nghiên cứu ‹ của tiến sĩ Kyamashta, Yinamori về mặt di truyền tế bào học của tre trúc. Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học.
Munro (1868) céleéng trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” được coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó đã khái quát được một cách tổng quát văWÿBàụ tre trúc. Năm 1994, tổ chức PROSEA (Plant Resourcer of South - East Asia) đưa ra công trình nghiên cứu “Tre nứa khu vue 'Đông Nam Á” tại Indonesia. Trong công trình nghiên cứu tác, giả đã đặt:ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng các oải tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam. Tuy nhiên, công,trình vẫn chưa nghiên cứu hết các loài có Á trong khu vực cũng như ở Việt Nam.
Công trình “Các loài tre trúc” của Gamble (1896) đã đề cập tương đối chỉ tiết về phân bó, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ paca Metso, Melaysia va Indonexia. f Công biện pháp Tại Ấn Độ: Nghiên cứu của Dr.Tewari (1997) đã nghiên cứu về phân bố và cách nhận biết của các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra được giá trị sử dụng hiện tại, chiến lược và dự kiến các chương trình nghiên cứu, đưa ra đánh giá tài nguyên tre trúc cho từng nước về số lượng loài và tiềm năng phát triển. Một số tác giả trong nghiên cứu về tác động của chính sách và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội từ Tre và Mây. Tình hình nghiên cứu ở việt Nam Tre trúc và những sản phẩm của nó đã gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam từ bao đời nay trên tất cả các mặt của đời sống vật chất, văn hóa và tỉnh thần, trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, gậy tầm 'vông đã cùng nhân dân ta đuổi đánh quân xâm lược.
Hòa bình lập lại, tre trúc lại cùng chúng ta bước vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội. Giá trị của tre trúc thật phong phú và đa dạng, không chỉ trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn có ý nghĩa cad trong. cải thiện bảo vệ môi trường sinh thái. Vì vậy, hình ảnh tre trúc đã trở thành những ấn tượng tốt đẹp và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam.
Các vấn đề về quản lý và kinh doanh tre trúc cũng ngày càng thu hút được sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu trong nước. Tuy nhiên việc nghiên cứu tre trúc ở Việt Nam. mới thi được bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 60, một số côngtrình nghiên cứu và những kết quả có thể kể đến là: Năm 1964 Nguyễn Ngọe Bình me đường cho nghiên cứu về đất trồng Ludng qua công trình “Buổe đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng”. Năm 1967, Nguyễn Thị Phi Anh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu trồng Diễn ở Cầu Hai - Phú Thợ” > Nam 1972, ê Nguyễn và các cộng sự đưa ra công trình nghiên cứu cal và khai thác tre trúc” Phạm BáMin ( 2) đã “nghiên cứu nhân giống cây Luồng bằng phương pháp ươm 'ong bầu dinh dưỡng”.
Công trình này đã nêu rất kỹ phương pháp, kỹ thuật: gây trồng Luỗng trong bầu dinh dưỡng và phương, pháp để cây giống có chất lượng tốt. Trần Nguyễn Giảng (1961- 1967) đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng trồng luồng. Trịnh Đức Trình và Nguyễn Thị Hạnh (1986 — 1990) có công trình “Thâm canh rừng luồng lấy măng xuất khâu”. Ngoài ra s còn có một số nghiên cứu về nhân giống luồng của các tác giả như Trịnh Đức Trình (1972); Pham Bá Minh (1972); Phạm Quang Liên (1999).
Năm 1994 Ngô Quang Đê đã nghiên cứu và đưa ra cuốn “Gây trồng tre ©”, tác giả đã giới thiệu tóm tắt về đặc điểm sinh vật học, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre trúc nói chung. Ngoài ra:tác giả cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng của một số loài cụ thể đang được quan tâm hiện nay như: Luỗng, Mây Sang, Vầu Đắng. > ey Nghiên cứu về phân bố, trữ lượng, số loài xànÈ hình sinh trưởng của các loài tre trúc ở Việt Nam được thực hiện qua công túc điều tra quy hoạch rừng của Viện điều tra quy hoạch rừng (1995 21998), đã cho thấy sự phong phú và đa dạng về tổ thành các loài tre trúc, khả hăng sinh trưởng nhanh và vùng phân bố rộng rãi tre trúc & nude ta.