MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu tương (Glycine max (L) Merr) còn gọi là đậu nành là một cây trồng cạn ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Khó có thể có tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương. Sản phẩm của nó làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt (Trần Văn Điền, 2007) [4].
Vì thế cây đậu tương được gọi là "Ông Hoàng trong các loại cây họ đậu". Sở dĩ cây đậu tương được đánh giá như vậy bởi lẽ cây đậu tương có giá trị rất toàn diện. Cây đậu tương là một trong những loại cây lương thực, thực phẩm có vai trò quan trọng trong đời sống con người, đứng vị trí thứ tư sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prôtein trung bình khoảng từ 35,5 - 40%, lipit từ 15-20%, hyđrat cacbon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thị Thư, 2004) [5].
Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Ngoài ra còn có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Trong đậu tương còn có đủ các acid amin cơ bản như isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Ở Việt Nam đậu tương là cây trồng quan trọng, là một cây lương thực vừa dễ trồng vừa có hiệu quả kinh tế cao, không những thế cây đậu tương còn có tác dụng cải tạo đất góp phần tăng năng suất của các cây trồng khác.
Trước những lợi ích to lớn mà cây đậu tương đem lại Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới việc phát triển cây đậu tương theo hướng tăng cả về diện tích và năng suất. Trong đó tăng năng suất là vấn đề cốt lõi. Chính vì vậy việc cần nhanh h 2 chóng đi sâu nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác khảo nghiệm giống, nhằm chọn lọc ra các giống có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện vùng sinh thái. Đậu tương được trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc Việt Nam có diện tích đất 353318,91 ha, trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệm chiếm trên 30 % (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013) [6]. Điều kiện sinh thái của tỉnh phù hợp cho phát triển cây đậu tương ở tất cả các vụ gieo trồng: Xuân, Hè, Hè Thu và Đông. Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên chưa thực sự phát triển, hàng năm Thái Nguyên cũng phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương các nước trên thế giới như Trung Quốc, Mỹ, Úc để phục vụ cho chế biến thực phẩm cho con người và gia súc. Việc sản xuất đậu tương của Thái Nguyên chưa đáp ứng được yêu cầu.
Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên chưa cao là chưa có bộ giống tốt. Mặc dù hiện nay sản xuất đậu tương của tỉnh đã có 1 số giống mới xong chủ yếu vẫn dùng giống DT84 năng suất ổn định nhưng hiệu quả sản xuất chưa cao. Do vậy, cần phải tìm một số giống mới để đáp ứng nhu cầu của sản xuất. Trước thực trạng đó, năm 2016 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết hợp tác với phía Hàn Quốc nhập nội 300 dòng đậu tương mới về khảo sát.
Kết quả thí nghiệm dòng năm 2016 cho thấy có một số dòng tỏ ra có triển vọng tốt. Để tiếp tục đánh giá được chính xác khả sinh trưởng, phát triển và sự ổn định của các dòng đậu tương có triển vọng; làm cơ sở cho việc chọn giống đậu tương thích hợp cho tỉnh Thái Nguyên phục vụ sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Nhằm tiếp tục đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên.
Yêu cầu nghiên cứu - Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương thí nghiệm trong vụ Hè Thu năm 2017 tại Thái Nguyên. - Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương thí nghiệm. - Nghiên cứu tình hình sâu bệnh của các dòng đậu tương thí nghiệm. - Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng đậu tương tham gia thí nghiệm.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Làm quen với nghiên cứu khoa học sau khi ra trường như: phương pháp bố trí thí nghiệm, cách thu thập số liệu và viết một báo cáo khoa học. - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và nghiên cứu khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bước đầu cho việc xác định một số dòng đậu tương có triển vọng phù hợp với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên, là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả của nghiên cứu sẽ tìm ra các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc có khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu tốt phục vụ cho công tác chọn tạo giống đậu tương cho vùng Thái Nguyên. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Điều kiện ngoại cảnh có liên quan mật thiết tới cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng.
Nó ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý sinh hóa. Sự biểu hiện ra kiểu hình bên ngoài chính là sự tác động giữa kiểu gen cây trồng và môi trường. Giống quy định giới hạn năng suất của cây trồng. Năng suất chỉ tương ứng với điều kiện kĩ thuật trong phạm vi do giống quy định.
Khi năng suất tối đa thì dù điều kiện ngoại cảnh cũng như kĩ thuật canh tác tốt hơn cũng không thể làm tăng năng suất. Bởi vậy, giống mới có vai trò hết sức quan trọng trong công việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Mỗi một giống khác nhau thì có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội.
Để có những giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống được hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới được rút ngắn rất nhiều. Bằng con đường nhập nội hoặc tạo ra các giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, phối hợp với khả năng chống chịu với các yếu tố ngoại cảnh bất lợi và chống chịu các loại sâu bệnh hại, đồng thời có khả năng cải tạo và bảo vệ đất. Đó chính là quá trình phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở h 5 diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp. Do đó, việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng.
Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên phát triển chưa mạnh do hiệu quả sảng xuất chưa cao. Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, giá bán không ổn định, sâu bệnh.Trong đó, nguyên nhân chính là chưa có bộ giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Xuất phát từ thực tiễn đó cần phải nghiên cứu khảo nghiệm các dòng đậu tương có triển vọng phù hợp với tỉnh Thái Nguyên sao cho đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Trong cơ cấu cây trồng, cây đậu tương xuất hiện sớm nhưng chỉ phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Cây đậu tương được phân bố từ vùng ôn đới đến vùng nhiệt đới, từ độ cao thấp hơn mặt biển đến độ cao gần 2. Đậu tương là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5. Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông bắc Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên và các nước trên thế giới.
Hiện nay, có khoảng 78 nước trồng đậu tương, cây đậu tương đã được đem trồng ở khắp các châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới. Đứng hàng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô. Sản lượng đậu tương thế giới những năm gần đây Nguồn: FAOSTAT (2017) [9] Châu Á tuy là nơi nguyên sản của cây đậu tương tuy nhiên nó lại được trồng tập trung ở Châu Mỹ. Giai đoạn 2012-2016 sản lượng đậu tương Châu Mỹ chiếm 87,5%, tiếp đó là Châu Á 9,1%, còn lại ở các châu lục khác.