Khóa luận tốt nghiệp về cây nhãn và nghề sản xuất long nhãn tại Hồng Nam, Hưng Yên

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp cây nhãn và nghề sản xuất long nhãn tại làng nễ châu xã hồng nam thành phố hưng yên, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2011

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LÀNG NỄ CHÂU

1.1. Vị trí địa lý — cảnh quan tự nhiên

1.2. Tên gọi và lịch sử hình thành

1.3. Khái quát tình hình kinh tế

1.4. Khái quát tình hình văn hóa, xã hội, phong tục tập quán

1.5. Các công trình văn hóa tiêu biểu

1.5.1. Chùa và đền Nễ Châu

1.5.2. Đình làng Nễ Châu

1.5.3. Phủ Vực và nhà văn hóa Nễ Châu

1.5.4. Chùa Hiến và cây nhãn tổ

1.6. Lễ hội làng Nễ Châu

2. CHƯƠNG 2: CÂY NHÃN VÀ NGHỀ SẢN XUẤT LONG NHÃN TẠI LÀNG NỄ CHÂU

2.1. Đặc điểm cây nhãn và giống nhãn đặc sản tại làng Nễ Châu

2.1.1. Khai quát về đặc điểm cây nhãn và thực trạng cây nhãn tại Hưng Yên

2.1.2. Đặc điểm chung cây nhãn

2.1.3. Thực trạng cây nhãn tỉnh Hưng Yên

2.1.4. Đặc điểm nổi bật và thực trạng cây nhãn đặc sản tại làng Nễ Châu

2.2. Nghề sản xuất long nhãn tại làng Nễ Châu

2.2.1. Nguồn gốc hình thành nghề sản xuất long nhãn

2.2.2. Lịch sử nghề sản xuất long nhãn tại làng Nễ Châu

2.2.3. Quy trình chế biến và tình hình buôn bán long nhãn của làng Nễ Châu

2.2.3.1. Quy trình chế biến long nhãn
2.2.3.2. Tình hình buôn bán long nhãn của làng Nễ Châu

2.2.4. Các loại mặt hàng long nhãn được sản xuất và buôn bán hiện nay

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA NHÃN VÀ NGHỀ SẢN XUẤT LONG NHÃN TRONG ĐỜI SỐNG DÂN LÀNG NỄ CHÂU. NHỮNG TỒN TẠI VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT

3.1. Vai trò của nhãn và nghề sản xuất long nhãn trong đời sống dân làng Nễ Châu

3.2. Những tồn tại

3.3. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC VĂN BẢN

PHỤ LỤC ẢNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây nhãn và long nhãn

Cây nhãn, hay còn gọi là cây nhãn, là một trong những loại cây ăn quả phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Hưng Yên. Tại làng Nễ Châu, cây nhãn đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế và văn hóa của người dân nơi đây. Long nhãn, sản phẩm chế biến từ nhãn tươi, không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn là một phần của di sản văn hóa ẩm thực địa phương. Theo nghiên cứu, sản xuất long nhãn tại Hưng Yên đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng nhãn đã giúp cải thiện đời sống của hàng trăm hộ gia đình, tạo ra hàng triệu đồng doanh thu mỗi năm.

1.1. Đặc điểm của cây nhãn

Cây nhãn có nguồn gốc từ Ấn Độ, thuộc nhóm cây á nhiệt đới. Đặc điểm nổi bật của cây nhãn là khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu ẩm ướt, đất phù sa màu mỡ. Cây nhãn thường cho quả sau 4-5 năm trồng, với thời gian thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 8. Giá trị dinh dưỡng của long nhãn rất cao, chứa nhiều vitamin và khoáng chất, có tác dụng bổ dưỡng cho sức khỏe. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, long nhãn có thể được sử dụng trong nhiều món ăn và bài thuốc, giúp an thần, bổ tâm, và tăng cường sức khỏe.

II. Quy trình sản xuất long nhãn tại Hồng Nam

Quy trình sản xuất long nhãn tại Hồng Nam được thực hiện theo các bước nghiêm ngặt nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm. Đầu tiên, việc chọn giống nhãn tốt là rất quan trọng. Giống nhãn lồng Hưng Yên được ưa chuộng vì quả to, cùi dày, hạt nhỏ. Sau khi thu hoạch, nhãn được sơ chế và phơi khô dưới ánh nắng mặt trời hoặc sử dụng máy sấy để đảm bảo độ ẩm và chất lượng. Kỹ thuật trồng nhãn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất. Người dân thường áp dụng các biện pháp chăm sóc như tưới nước, bón phân hợp lý và phòng trừ sâu bệnh để cây phát triển khỏe mạnh.

2.1. Kỹ thuật chăm sóc và thu hoạch

Chăm sóc cây nhãn bao gồm việc tưới nước, bón phân và cắt tỉa cành. Thời điểm thu hoạch nhãn thường diễn ra vào mùa hè, khi quả chín rộ. Người dân thường thu hoạch bằng tay để tránh làm dập nát quả. Sau khi thu hoạch, nhãn được phân loại và chế biến thành long nhãn. Việc chế biến này không chỉ giúp bảo quản sản phẩm lâu hơn mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho nông sản. Theo thống kê, thu nhập bình quân từ việc sản xuất long nhãn tại Hồng Nam đạt khoảng 30 triệu đồng/người/năm, cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt từ loại hình sản xuất này.

III. Thị trường và giá trị kinh tế của long nhãn

Thị trường tiêu thụ long nhãn ngày càng mở rộng, không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Sản phẩm này được ưa chuộng nhờ vào hương vị đặc trưng và giá trị dinh dưỡng cao. Phát triển cây nhãn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người dân mà còn góp phần bảo tồn văn hóa ẩm thực địa phương. Các sản phẩm từ long nhãn như mứt, trà, và các món ăn chế biến từ long nhãn đang dần trở thành những sản phẩm đặc sản nổi tiếng của Hưng Yên. Việc phát triển thương hiệu cho long nhãn cũng đang được chú trọng, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm trên thị trường.

3.1. Xu hướng tiêu thụ và xuất khẩu

Xu hướng tiêu thụ long nhãn đang gia tăng, đặc biệt là trong các dịp lễ tết và mùa hè. Người tiêu dùng ngày càng ưa chuộng các sản phẩm tự nhiên, an toàn cho sức khỏe. Để đáp ứng nhu cầu này, các hộ sản xuất tại Hồng Nam đã chú trọng đến việc cải tiến quy trình sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, việc tham gia các hội chợ, triển lãm cũng giúp quảng bá sản phẩm long nhãn đến với người tiêu dùng và các nhà phân phối. Điều này không chỉ giúp tăng doanh thu mà còn nâng cao giá trị thương hiệu cho sản phẩm long nhãn Hưng Yên.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Cuộc sống người dân Hưng Yên ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, đời sống hiện đại tiên tiến ảnh hưởng đến tất cả mọi hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa xã hội. Làng Nễ Châu nằm ngay trung tâm Phố Hiến chứng kiến thời Phố Hiến thịnh vượng cho đến suy tàn. Làng nhanh nhẹn nắm bat thời cuộc trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, diện mạo đời sống của làng thay déi nhưng vẫn giữ được yếu tố truyền thống. Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cuộc sống có nền kinh tế phát triển, đời sống tỉnh thần phong phú dân làng Nễ Châu đã đóng góp hàng trăm triệu đồng để xây dựng các công trình phục vụ dân sinh như điện, đường, trường, trạm.

Đường làng được bê tông hóa, hệ thống điện thắp sáng đến từng ngõ xóm. Dé điều dap cao vững chắc và được chính quyền xã quan tâm thường xuyên dé dam bảo cuộc sống bình yên cho dân làng, giảm thiệt hại về người và của mỗi khi lũ về. Nhà trẻ, trường học được xây dựng khang trang. Đình chùa được gìn giữ và tôn tạo hàng năm.

Đời sống nhân dân ổn định, hộ đói giảm, hộ giàu tăng nhanh. Làng có truyền thống hiểu học, hằng năm có nhiều em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng. Các cụ cao tuổi trong làng luôn có tâm niệm gìn giữ và lưu truyền câu chuyện dân gian, lễ hội truyền thống, cũng như tín ngưỡng tâm linh. Vì vậy mà họ đã tự viết kịch bản, lên nội dung chương trình để ghi lại hình ảnh cùng lễ hội có tên: “Nét đẹp văn hóa lang Né Châu” — tự hào một vùng qué.

Chương 2 CAY NHAN VA NGHE SAN XUAT LONG NHAN TAI LANG NE CHAU 2. Đặc điểm cây nhãn và giống nhãn đặc sản tai làng Nễ Châu 2. Khái quát về đặc điểm cây nhãn và thực trạng cây nhãn tại Hưng Yên 2. Đặc điểm chung cây nhãn Tham khảo tài liệu từ Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, thống kê những đặc điểm chung của cây nhãn.

Cụ thé: Tiéu chi Nội dung Tên thường gọi Nhãn Lệ chi nô, may ngận, mác nhan (Tay), quế viên (#£[@]) (Trung Quốc), lengkeng (Indonesia), mata kucing (Mã Lai). Tên tiếng ` „ Anh: Longan. Tén khác Tên khoa học: Dimocarpus longan Lout. Thuộc họ Bồ hòn — Sapindaceae, tại Việt Nam: nhãn cùng họ với | cây vải, chôm chôm, là cây á nhiệt đới và nhiệt đới.

Nhãn có nguôn gôc ở An Độ, được trông ở miễn Nam Trung Nguồn gốc „ ;. ; ; Quéc, Thái Lan, An Độ, Indonesia, Việt Nam. OK 2 ~ F °K R ~ Ầ Một sô nhóm | Nhãn tro cùi (cùi rat mỏng); nhãn nước (nhiêu nước); nhãn lông; giông phô biên | nhãn tà, nhãn cám. Là loại cây dé trồng, mọc nhanh, thích hợp với đất thịt pha cát, nơi có lớp đất canh tác sâu.

Có thể trồng bằng hạt, bằng cành chiết hay ghép cây. Độ 4-5 năm thì có quả, thời gian cho quả cũng rất lâu. Đặc tính Thu hoạch vào khoảng tháng 6-8, khi Nhãn chín, thu về, phơi nắng hay sấy cho cùi vàng đều thì lột cùi, phơi tiếp đến khô thì dùng. Hạt dùng phơi khô.

Rễ và lá thu hái quanh năm. Tại Việt Nam, nhãn lồng Hưng Yên là đặc sản nổi tiếng. Cây cao 5-10 m, tán lá tròn xoè ra và rậm rạp, cành non có lông. Vỏ cây xù xì, có màu xám.

Thân nhiều cành, lá um tim xanh tươi quanh năm. Lá kép hình lông chim, mọc so le, gồm 5 đến 9 lá chét hẹp, nhẫn, mặt dưới màu thẫm hơn mặt trên, dài 7-20 cm, rộng Mô tả 2,5-5 cm. Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, xếp thành chuỳ mọc ở ngọn cành và ở nách lá, màu vàng nhạt, đài 5-6 răng, tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô. Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẫn.

Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Cùi nhãn còn tươi có các thành phần sau, (tinh theo %): - nuée 77,15 - tro 0,01 - chấtbéo0,13 - protid 1,47 - hop chất có nitrogen tan trong nước 20,55 - đường saccharose 12,25 - vitamin A và B. Cui nhãn khô chứa - nước 0,85 Thành phần hoá - chat tan trong nước 79,77 học - chất không tan trong nước 19,39, tro 3,36 Trong phan tan trong nước có - glucose 26,91% - saccharose 0,22% - acid tartric 1,26% - chất có nitrogen 6,309%. Hat nhãn chứa: tinh bột, saponin, chất béo và tanin.

Lá chứa quercetrin, quercetin, tanin. Thanh phan dinh - Gia trị năng lượng: 458KJ/100 g dưỡng (trong - Nước 72,4% - Phốt pho: 6,0 m 100 g phần tươi - Protein: 1,0 g - Sat: 0,3 mg ăn được): - Chất béo: 0,5 g - Vitamin A: 28,0 IU. 18 - Hydrat cacbon: 25,2g - Vitamin BI: 0,04 mg. - Chất xơ: 0,4 - Vitamin PH: 0,6 mg.

- Canxi: 2,0 mg - Vitamin C: 8,0 mg. An tươi, đông lạnh, đồ hộp, say khô, nước giải khát, làm rượu. Nhãn sấy khô làm long nhãn là thuốc bổ, thuốc an thần, điều trị suy nhược thần kinh, chứng sút kém trí nhớ, mat ngủ hay hoảng Cong dung hốt. Hạt nhãn, vỏ quả nhãn dùng làm thuốc trong Đông y.

Nhãn là cây nguồn mật quan trọng có chất lượng cao. Gỗ nhãn non có thé làm thức ăn gia súc, hạt nhãn có thê làm hồ, chê rượu. : ~ a r H rae A 4A DN “A ` Cùi nhãn có vị ngọt, tính âm; có tác dụng bô tâm, an thân, kiện tỳ, | Tinh vi, tác làm tăng cơ nhục. Hạt có vị mặn, tính bình, có tác dụng thu liễm dung: chỉ huyết.

Lá có tác dụng hạ nhiệt, tiêu viêm. Rễ có tác dụng lợi tiểu và hoạt huyết. Cùi nhãn dùng chữa trí nhớ suy giảm hay quên, tư lự quá độ mắt ngủ, thần kinh suy nhược, tâm thần mệt mỏi hồi hộp, hoảng hốt, gan kém, tỳ kém, huyết hư, rong kinh, 6m yếu sau khi bị bệnh. Trong tiếng Trung, cùi nhãn khô được gọi là viên nhục (AJA), nghĩa là "cục thịt tròn".

Các bộ phận Rễ chữa dưỡng trấp niệu, bạch đới, thống phong. Dùng 15 - khác nhau của 30g. nhãn được dùng Lá dùng ngừa sởi, trị cảm lạnh, sốt rét, viêm ruột. Dùng 10- như sau: 15g.

Lá nấu nước tắm trị eczema bìu dái. Hạt dùng trị đau dạ dày, đau thoát vị, mụn nhọt và bỏng, vết thương chảy máu. Dùng 10-15g dạng thuốc sắc. Đồng thời tán bột, hoà với đầu dừa dùng bôi vào chỗ đau.

Vỏ cây và vỏ quả dùng chữa bỏng, chữa sâu răng. Đốt, tán bột hay nâu cao bôi. - Gieo hạt (chủ yếu để làm gốc ghép): Hạt lấy về cần xử lý gieo ngay. Ngâm hạt nửa ngày, vớt ra, ngâm vào nước vôi trong, sau 2 - 3 giờ vớt ra, ủ vào đất cát ẩm 2 - 4 ngày.

Khi ngâm hạt nhú ra đem gieo. - Chiết cành: Đường kính gốc cành chiết 1,0 - 1,5 cm, dài 40 - 60cm. Sau khi hạ cành, nên tháo bỏ giấy PE, quấn thêm ra ngoài bầu chiết một Kỹ thuật nhân lớp bùn rơm, để cho đến khi rễ nhú ra ngoài lớp bùn rơm này mới giống đem trồng. - Ghép: Chọn giống nhãn tốt, quả to, cùi dày, hạt bé, ra quả đều lấy làm mắt ghép.

Ghép vào tháng 3 đến tháng 4 hoặc tháng 9 - 10 (cần | thời tiết khô ráo, mát mẻ). Chọn cành ghép 1 - 2 tuổi. Sau 2 - 3 năm trên đất tốt đã cho quả; 4 - 5 năm cho thu hoạch tốt. Đất: Đất phù sa (thích hợp nhất), đất cát ven biển, đất gò đồi trung du hay đất núi, pH = 4,5 - 6,0.

Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển 21 - 27 độ Khí hậu C; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31 độ C; Mùa Đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hoá mam hoa. Giông: Nhãn lồng, nhãn đường phèn, nhãn nước,. Kỹ thuật trồng Khoảng cách và mật độ trồng: 8 m x 8. Thời vụ trồng: Miền Bắc: tháng 2 - 3 và tháng 8 - 9 Tại Việt Nam Miễn Nam: Dau và cuôi mùa mưa - Bón phân: Mỗi năm bón thúc cho cây 3 lan (kg/cây) Chăm sóc - Tưới nước: Là cây chịu hạn, thích 4m, sợ đọng nước.

Thang đầu tiên sau trồng tưới 1 - 2 ngày/lần; 2-3 ngày/1 lần ở tháng thứ 2. Sau đó chỉ quá khô hạn mới cân tưới cho cây. - Tia cành tạo tán: Cắt tỉa tạo hình sao cho cây thấp để dễ chăm sóc. Tiến hành cắt tỉa sau khi thu hoạch quả muộn hơn - cắt vỏ những cành yêu, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo chỉ dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc. | + Bọ xít: Phun Basudin 0,2% hoặc Diazinnon 0,04%; Dipterex 0,015 - 0,1%, Trebon 0,15-0,2% (Phun 2 đợt liền nhau cách nhau một tuần vào khoảng cuối tháng 4). + Sâu tiện vỏ nhãn: Dùng thuốc bơm vào lễ đục hoặc dùng gai mây dé bắt. Dùng nước vôi đặc quệt lên gốc cây.

+ Rệp sáp: Dùng Dimecron, BI58 (0,15 - 0,28%). Phòng trừ sâu + Doi, Réc: Bó các chùm nhãn trong giấy cứng, bao cói, mo bệnh cau, túi PE để bảo vệ quả. + Nhện hái lá: Phun Nuvacron 0,2%. + Ray hại hoa: Dipterex 0,2% và Trebon 10 ND 0,15 - 0,2%.

+ Doi đục cành hoa: Phun bang Monitor 0,2%, Trebon 0,15%. + Bệnh sương mai (mốc sương): Phun Bordeau 1% hoặc Ridomil - MZ 0,2%, Anvil 0,2%, Score 0,1%, hoặc hỗn hop Ridomil - MZ 0,2% + Anvil 0,2%. Khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh màu nâu sáng, vỏ quả hơi Thu hoạch su si hơi dày chuyển sang mong và nhẫn, bóc quả xem thấy hạt có màu nâu đen thì có thể thu hoạch. Nên thu hoạch quả vào ngày tanh ráo, vào buổi sáng và buổi chiều.

Không cắt trụi hết cành lá của cây vì có thê ảnh hưởng đên khả năng nảy lộc vụ sau. Nguồn: Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam http:/www.asp?param=news&newsid=774 2. Thực trang cây nhãn tinh Hưng Yên Hiện nay cây nhãn là cây trồng chủ lực của ngành nông nghiệp Hưng Yên. Diện tích nhãn toàn tỉnh Hưng Yên đạt trên 5 nghìn 5 trăm ha, trong đó có 3500 ha trồng tập trung, đang cho thu hoạch, diện tích này được phân bố chủ yếu ở thị xã Hưng Yên, Huyên Tiên Lữ, Khoái Châu và Kim Động.

Hàng năm sản lượng nhãn đạt khoảng 20 — 30 nghìn tấn, trong đó 60 % là bán quả tươi còn lại chế biến long nhãn khô, doanh thu - từ 150 — 300 tỷ đồng chiếm 12 — 13 % thu nhập từ sản xuất nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu sản xuất long nhãn từ cây nhãn tại Hồng Nam, Hưng Yên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình sản xuất long nhãn, một sản phẩm nông sản có giá trị cao. Tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của long nhãn, đồng thời đưa ra những giải pháp cải thiện kỹ thuật canh tác. Độc giả sẽ nhận thấy lợi ích từ việc áp dụng các phương pháp này, không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn tăng cường giá trị kinh tế cho người nông dân.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến sản xuất nông nghiệp, hãy khám phá thêm về tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình sản xuất nông sản khác trong khu vực. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về ảnh hưởng của các mức đạm và mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển giống lúa TBR45 tại thành phố Yên Bái, một nghiên cứu thú vị về cây lúa. Cuối cùng, bài viết về cải tiến hệ thống trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình sẽ mang đến cho bạn những thông tin bổ ích về việc tối ưu hóa sản xuất nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn sản xuất.