CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1. Tra xanh Trà là thức uống pho biến nhất thế giới sau nước. Đặc trưng của trà là chứa hàm lượng phenolic cao, flavanoid và hoạt tính chống oxy hoá của trà đem lại nhiều tác dụng có lợi cho sức khoẻ con người. Ngoài ra, trong trà còn có khoáng và vitamin là những chất làm tăng khả năng chống oxy hóa của trà.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy trà xanh có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh tim mạch, một số bệnh ung thư, chống tăng huyết áp, kháng khuẩn, bảo vệ thân kinh và bảo vệ răng. Thành phan cua la tra tuoi bao gồm một khối lượng lớn các chất (bang 1.1), có thé chia thành hai nhóm: nhóm các hợp chat không bay hoi và các hợp chat thom dễ bay hơi. Trong đó, nhóm các hợp chất không bay hơi chiếm phân lớn trong lá trà tươi, bao gồm phenolic tong, flavonol, amino acid, carbohydrate, các acid hữu cơ, caffeine, các dẫn xuất của purine, các vitamin va một số thành phân khác. Trong đó, thành phần quan trọng nhất và đặc trưng cho trà là polyphenol và theanin.
Hàm lượng polyphenol chiếm khoảng 20 — 30% lượng chất khô trong trà, thành phan chính quyết định màu sắc và mùi vị của nước trà. Thành phân polyphenol trong trà xanh chủ yếu là các hợp chất catechin, chiếm tới hơn 50% hàm lượng phenolic tổng và là thành phần chính quyết định các giá trị dược tính của trà xanh (Chen và cộng sự, 2012).1: Thành phần hóa học của trà STT Thành phân Hàm lượng (% chất khô) l Phenolic tông 20 — 30 2 Caffeine 3.5 3 Theobromine 0,15 —0,2 4 Theophylline 0,02 — 0,04 5 Methylxanthine khac va lignin 6,5 6 Acid hữu co 1,5 7 Chlorophyll 05 8 Theanine 4 9 Amino acid tự do I—5,5 10 Protein 15 —20 II Carbohydrate 3—7 12 Lipid 2 (Nguồn Sananayake, 2013) 1. Hợp chất phenolic trong trà Hợp chat phenolic dé bị oxy hoá dưới tác dụng của enzyme polyphenoloxidase và khi tiếp xúc với oxy không khí. Polyphenol là sản phẩm của quá trình quang hop.
Do đó, nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tô như mức độ sinh trưởng của lá, chế độ bón phân, cường độ chiếu sáng. Các hợp chất phenolic là thành phần được quan tâm nhiều nhất trong trà chủ yếu là nhóm catechin (C, EC, EGCG, EGC, ECG. Ngoài ra, trong thành phan phenolic của trà còn có một số chất khác với tỉ lệ thấp như các flavonol (quercetin, kaempferon, rutin.), các dẫn xuất glucoside, các leucoanthocyanin, theaflavin, thearubigin. Catechin là những hop chat phenolic chủ yếu có trong lá trà tươi.
Sáu loại catechin thường thấy trong trà đều là những dẫn xuất khác nhau của catechin và gallic acid bao gdm catechin (C), epicatechin (EC), gallocatechin (GC), epicatechin gallate (ECG), epigallocatechin (EGC), epigallocatechin gallate (EGCG). Một lượng nhỏ các catechn khác như epicatechin-3-(3-O-methyl gallate), epigallocatechin-(3-O-methylgallate), epigallocatechin-3-O-caffeoate va epiafzelechin-3-O-gallate trong lá tra tươi. Catechin là tác nhân chính tao màu cho nước tra khi đã qua chế biến va là thành phan chính gây nên vi đăng và chát nhẹ cho trà. Khi các catechin bị oxy hóa bởi enzyme polyphenoloxydase, đầu tiên sẽ hình thành hợp chất orthoquinone không bên sẽ chuyển hóa thành theaflavin (TF), các TF này khi phan ứng ngưng tụ tạo thành thearubigin (TR).
HO \ | O0 Y ~ ‘or, | Í OH OH OH Epicatechin: Ry = R4=H Theaflavin: R ; = Ra= OH Epigallocatechin: Ry =H; R„= OH Theaflavin-3-gallate: Ry = Galloyl; Ra = OH Epicatechin-3-gallate: Ry = Galloyl: Rạ=H Theaflavin-3'-gallate: R ¡= OH; Ra = Galloyl Epigallocatechin-3-gallate: Ry = Galloyl; Ra= OH Theaflavin-3 ,3'-digallate: R ¡ = R= Galloy! Hình 1.1: Cầu trúc cua catechins và theaflavins Flavonol glycoside: những thành phan nay tôn tai với ham lượng rat nhỏ trong lá trà ở cả hai dạng flavonol tự do va glycoside. Những hợp chat flavonol có thé tham gia phản ứng oxy hóa trong quá trình sản xuất trà. Gallic acid: tồn tại trong lá trà và tham gia vào các phản ứng oxy hóa trong trà. Gallic acid và quinic acid cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành este với nhiều loại phenolic tổng.
Dược tính cua trà Các nghiên cứu gan đây cho thay trà xanh có thé góp phan giảm nguy cơ bệnh tim mạch, một số bệnh ung thư (Yang và cộng sự, 2007), chồng viêm nhiễm (Mejia va cộng su, 2009), đóng vai trò là chất kháng sinh (Osterburg va cộng sự, 2009), giúp giảm huyết áp, kháng khuẩn, bảo vệ thần kinh và bảo vệ răng. Tác dụng chong ung thư Các catechin trong trà như EGCG, ECG, EGC có khả năng tương tác, ngăn chặn và hạn chế quá trình khơi mào hình thành và phát triển của tế bảo ung thư. Trong giai đoạn khơi mào, các hop chat catechin có kha năng trung hoà các tac nhân làm biên đôi cau trúc DNA, ngăn chặn sự tạo thành nitrosamin, amin di vòng là những tác nhân có thé gây ung thư (Yang và cộng sự, 2007). Một số nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của trà được trình bày ở bảng 1.2: Một số nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của trà Quốc gia Loại nghiên cứu Lượng trà sử dụng Ảnh hướng đối với sức khỏe Tác giả Ung thư vú Theo dối tinh trạng bệnh >6 tách/ngày Sử dụng >3 tách trà/ngày làm giảm Nhật của 1160 phụ nữ bi ung thư 3-5 tách/ngày nguy cơ tái phát ung thư và chỉ đúng Inoue và cộng sự, 2001 vú xâm lan (độ tuổi 51,5) 0-2 tach/ngay ở giai đoạn dau của ung thu Nghiên cứu đôi chứng 501 Giảm đáng kề nguy cơ ung thư vú >85,/ mL/ngay Mỹ bệnh nhân ung thu vu khi càng tăng lượng trà sử dụng theo 0-85 ,7 mL/ngay Wu va cong su, 2003 (người Mỹ gôc A) và đôi thứ tự không uống, 0-85;7 mL/ngay Không uống chứng với 594 người va 85,7 mL/ngay Ung thư buồng trứng Nguy cơ ung thu tuyên tiên liệt giảm cùng với sự gia tăng: tần số (không Nghiên cứu đối chứng 130 sử dụng hoặc sử dụng trà), thời gian , bénh nhan ung thu tuyén Hau hét đều sử Trung quôc ` , (đối với người uống trà hơn 40 năm, Jian và cộng sự, 2004 tiên liệt va đôi chứng với dụng trà xanh người tiêu thụ hơn 1,5 kg trà lá hang 274 người năm, và với những người uống ít hơn I L/ngay) Ung thư dạ dày-ruột , 6 tach/ngay Nghiên cứu đôi chứng 887 3-5 tách/ngày Dùng hơn 6 tách/ngày làm giảm bệnh nhân ung thư dạ dày Nhật , 1-2 tách/ngày nguy cơ ung thư dạ dày so với kh6ng Huang và cộng sự, 1999 và đôi chứng với 28619 , Không bao giờ sử sử dụng người, độ tuôi từ 20 tới 79 dụng Nghiên cứu tiêu biéu tại ; Dung hon 10 tach/ngay lam giam mot thoi diém 636 nam va >10 tach/ngay Nhat , nguy co viém da day teo man tinh Shibata va cộng sự, 2000 nữ ở độ tuôi nam là 59,2 và 0-9 tách/ngày (OR = 0.86) nữ là 60,4 Ung thư phôi Trong số phụ nữ không hút thuốc, Nghiên cứu đối chứng 649 tiêu thụ trà xanh có liên quan với „ bệnh nhân nữ bi ung thư Khao sát băng ; Trung quôc , , giảm nguy cơ ung thư phôi (và nguy Zhong và cộng sự, 2001 phôi và đôi chứng với 675 cách phỏng vần cơ giảm với mức tiêu thụ ngày càng phụ nữ tăng 1.
Kha năng chong oxy hoá Một tác dụng quan trọng của trà là khả năng chống oxy hóa. Thành phần chủ yếu tạo ra các tác động chống oxy hóa nay là các hợp chat phenolic có trong trà, đặc biệt là catechin. Hoạt tính chống oxy hoá của catechin trong trà được sắp xếp theo trật tự giảm dan như sau: epicatechin gallate ~ epigallocatechin gallate > epigallocatechin > gallic acid > epicatechin. Khả năng quét gốc tự do của trà tương ứng với số nhóm —OH có trong catechin.
Khi tiến hành xác định khả năngchống oxy hoá của hợp chất catechin trong môi trường lipid, khả năng quét gốc tự do của các catechin có thé sắp xếp theo thứ tự sau: ECG > EC > EGCG >> EGC. Đối với khả năng ức chế quá trình peroxyde lipid, các catechin có thé sắp xếp EGCG > ECG > EGC > EC (Chen và cộng sự, 1994). Một số tac dụng khác Diệt khuẩn Các hợp chất phenolic trong trà có khả năng ức chế một số loại vi khuẩn như Streptoccocus mutans là vi khuẩn gây sâu rang, Porphyromonas gingivalis gây viêm khớp răng. Ngoài ra, các polyphenol trong trà còn có khả năng tác động đến sự hoạt động của enzyme glucotransferase làm tăng sức chống đỡ acid của men răng đồng thời chồng sự hình thành mảng răng.
Vi vậy dịch trích từ trà được cho vào kem đánh răng, chống mảng rang, hay vào các hỗn hợp làm nước súc miệng ngừa sâu răng, chữa răng hư, chống viêm khớp răng, cho vào thức ăn để phòng ngừa sâu răng. Ngoài ra, các polyphenol cũng như saponin còn có tính chất chống dị ứng (Narotziki và cộng sự, 2011). Chong bệnh Alzheimer Một vai nghiên cứu trên động vật va mô hình nuôi cay mô cho thấy rang EGCG từ trà xanh có tác dụng trên một số nguy cơ tiềm năng có liên quan tới sự tiến triển của bệnh Alzheimer. EGCG có tác dụng bảo vệ chồng lại và ngăn chặn sự hình thành B- amyloid gây độc tế bào thần kinh (Choi và cộng sự, 2001).
Ngoài ra, EGCG và một số catechin khác trong trà có tác dụng ức chế enzyme B-secretase, enzyme này chịu trách nhiện cho việc sinh tong hợp B-amyloid (Jeon va cộng sự, 2003). Chống bệnh Parkinson Nhiều nghiên cứu khác nhau cho thay kha năng ngăn chặn một số bệnh trên động vật của trà xanh và EGCG (Levites và cộng sự, 2001). EGCG ngan chặn sự tích lity sắt và a-synuclein trong MPTP ở chuột. Những ảnh hưởng nay là đặc tính kháng oxy hóa và khả năng tạo phức với kim loại của EGCG.
Nghiên cứu sự hình thành bệnh Parkinson và việc sử dụng trà làm giàm 5-10 lần các bệnh ở châu A. Chống lão hóa Theo lý thuyết, sự lão hóa là do sự hình thành các gốc tự do và stress oxy hóa dựa trên sự thay đối về kiểu hình dẫn đến sự suy giảm chức năng do tuổi tác và thoái hóa thần kinh (Harman và cộng sự, 1994). Một vài bệnh có liên quan tới tuôi tác như là ung thư, Parkinson, Alzheimer, tim mạch, đái tháo đường đầu là những bệnh có nguyên nhân liên quan tới sự thay đổi cân bang oxy hóa/chống oxy hóa và những ton hai do gốc tự do (Polidori và cộng sự, 2003; Junqueira và cộng sự, 2004). Tuy nhiên, Kitani và cộng sự (2004) đã chứng minh răng, dịch trích trà xanh không có tác dụng kéo dài tuôi thọ ờ chuột, nhưng nó có tác dụng chồng stress oxy do tuổi tác ở chuột va ngăn chặn sự thiệt hại của lipid huyết thanh và protein do sốc tự do.