Mở đầu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Giới thiệu về thị trƣờng chứng khoán tổng quan về thị trƣờng Bất động sản tại Việt Nam. Chƣơng 4: Kết quả và thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Khuyến nghị - Kết luận. 4 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về sai phạm trong BCTC 2. Định nghĩa về BCTC và sai phạm, gian lận trong BCTC Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán bao gồm: báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lƣu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo tài chính; báo cáo khác theo quy định của pháp luật (Điều 29, Luật Kế toán số: 88/2015/QH13). Theo từ điển tiếng Việt: gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh khoé nhằm lừa gạt ngƣời khác. Theo nghĩa rộng: gian lận là việc xuyên tạc sự thật, thực hiện các hành vi không hợp pháp nhằm lừa gạt, dối trá để thu đƣợc một lợi ích nào đó. Ba biểu hiện thƣờng thấy của gian lận là: chiếm đoạt, lừa đảo và ăn cắp.
Theo Lý thuyết Kiểm toán (GS. Nguyễn Quang Quynh, TS. Nguyễn Thị Phương Hoa- NXB Tài chính): sai phạm là yếu tố mấu chốt trong việc xác minh tính trung thực của thông tin kế toán và hoạt động tài chính. Sai phạm bao gồm gian lận và sai sót.
“Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tƣ lợi”. “Sai sót là lỗi không cố ý, thƣờng đƣợc hiểu là sự nhầm lẫn bỏ sót hoặc yếu kém về năng lực gây ra sai phạm”. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung): “Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và sai sót, cần xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý”.
Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng định nghĩa: “Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều ngƣời trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”. Nhƣ vậy, gian lận và sai sót đều là hành vi sai phạm; trong lĩnh vực tài chính kế toán các hành vi này gây lệch lạc thông tin, phản ánh sai thực tế. Tuy nhiên, hai hành vi này khác nhau về khía cạnh ý thức và mức độ “trong yếu” của sai phạm. Về mặt ý thức, sai sót là hành vi không có chủ ý, nguyên nhân của sai sót có thể là do năng lực hạn chế hoặc do sao nhãng, thiếu thận trong trong công việc; trong khi đó gian lận là hành vi có chủ ý cố ý gây ra sự sai khác để trục lợi.
Từ sự 5 khác nhau về ý thức nên gian lận đƣợc che giấu rất tinh vi và khó phát hiện, còn sai sót dễ phát hiện hơn. Một sự khác nhau nữa của gian lận và sai sót là mức độ trong yếu. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 320 (BTC, 2012, mục I: Quy định chung), thông tin đƣợc coi là trọng yếu nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hƣởng đến các quyết định kinh tế của ngƣời sử dụng báo cáo tài chính. Nếu hành vi gian lận thì luôn đƣợc xem là nghiêm trọng, còn hành vi sai sót mức độ trọng yếu đƣợc xem xét trên qui mô và tính chất của sai phạm.
Các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố ý. Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là nghiên cứu các gian lận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Động cơ gây gian lận trên BCTC 2.
Sự ổn định tài chính hay khả năng sinh lời bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị Tình hình tài chính hay mức sinh lời không ổn định của doanh nghiệp vẫn luôn là nguyên nhân phổ biến nhất khiến doanh nghiệp phải thực hiện các thao túng trên báo cáo tài chính. Hoạt động tài chính là một trong những nội dung rất cơ bản của hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đƣợc biểu hiện dƣới hình thái tiền tệ. Hay nói cách khác, tài chính của doanh nghiệp là những quan hệ tiền tệ gắn liền với việc tổ chức, huy động, phân phối, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sự tồn tại cũng nhƣ nổ lực của doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động, là kết quả tất yếu của mọi mặt mà doanh nghiệp hoạt động.
Dựa vào đó, ngƣời sử dụng BCTC sẽ biết đƣợc tình trạng hay trạng thái cụ thể cũng nhƣ xu thế phát triển của doanh nghiệp về an ninh tài chính, mức độ độc lập tài chính, về chính sách huy động sử dụng vốn, về tình hình và khả năng thanh toán. Đồng thời cũng qua xem xét tình hình tài chính ở thời điểm hiện tại, nhà đầu tƣ có thể dự báo đƣợc những chỉ tiêu tài chính trong tƣơng lai, dự báo đƣợc những thuận lợi và khó khăn mà doanh nghiệp sắp đƣơng đầu nhằm giảm thiểu tối đa tỷ xuất rủi ro trong đầu tƣ cho bản thân mình. Đối với doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Lợi nhuận là một chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ảnh hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tƣ, sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp.
Để nhận 6 thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cụ thể (mức sinh lời). Chính vì những lý do trên, sự ổn định về tình hình tài chính hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp ảnh hƣởng rất nhiều đến quyết định của nhà đầu tƣ. Những nhà đầu tƣ sẽ xem xét các số liệu mà doanh nghiệp công bố trên BCTC và áp dụng các công thức tính toán để quyết định có nên đầu tƣ vào doanh nghiệp hay không. Đồng thời, vì một số lý do chủ quan hoặc khách quan mà sự ổn định về tính hình tài chính hay khả năng sinh lời của doanh nghiệp bị ảnh hƣởng không tốt bởi tình hình kinh tế, ngành nghề kinh doanh hay điều kiện hoạt động của đơn vị,… dẫn đến doanh nghiệp có động cơ gian lận trên BCTC nhằm qua mắt nhà đầu tƣ, thu hút nhà đầu tƣ góp vốn vào công ty mình.
Áp lực cao đối với Nhà quản lý nhằm đáp ứng các yêu cầu hoặc kỳ vọng của các bên thứ ba Có nhiều lý do khiến các bản báo cáo tài chính không minh bạch và một trong số đó là cổ phiếu bị đánh giá quá cao (overvaluation). Giá cổ phiếu cao đồng nghĩa với kỳ vọng cao của nhà đầu tƣ về khả năng sinh lợi của công ty, từ đó gây sức ép lên các nhà lãnh đạo buộc phải tạo ra mức lợi nhuận tƣơng ứng nếu không muốn nhận phản ứng tiêu cực từ thị trƣờng. Mặt khác, các nhà lãnh đạo cũng nắm giữ một số lƣợng lớn cổ phiếu, nên bản thân họ không muốn giá cổ phiếu bị sụt giảm. Những lý do này khiến các nhà quản lý khó có lựa chọn nào khác hơn là tìm những thủ thuật thao túng BCTC.
Bên cạnh đó, Ban Giám đốc có điều kiện thực hiện hành vi gian lận vì họ có khả năng làm sai lệch sổ kế toán và lập báo cáo tài chính gian lận bằng cách khống chế kiểm soát mà dƣờng nhƣ đang hoạt động tốt. Mặc dù mức độ rủi ro xảy ra việc Ban Giám đốc khống chế kiểm soát ở mỗi đơn vị là khác nhau , nhƣng rủi ro này có thể tồn tại trong tất cả các đơn vị. Do việc khống chế kiểm soát xảy ra không thể đoán trƣớc đƣợc nên đây là loại rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và là rủi ro đáng kể. Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm ngƣời sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị đƣợc kiểm toán.
Việc điều chỉnh kết quả kinh doanh có thể bắt đầu từ những hành vi nhỏ hoặc những điều chỉnh không thích hợp đối với các giả định và thay đổi các xét đoán của Ban Giám đốc. Áp lực và động cơ dẫn đến các hành vi nêu trên có thể tăng thêm mức độ ảnh hƣởng và dẫn đến việc lập báo cáo tài chính gian lận. Đó là khi do áp lực phải đạt đƣợc các mục tiêu về thị trƣờng hoặc mong muốn tối đa hóa tiền lƣơng và 7 thƣởng dựa trên hiệu quả hoạt động, Ban Giám đốc cố ý tìm mọi cách lập báo cáo tài chính gian lận bằng cách tạo ra sai sót trọng yếu đối với báo cáo tài chính. Trong một số đơn vị, Ban Giám đốc có thể tìm cách báo cáo giảm lợi nhuận nhằm làm giảm số thuế phải nộp (ví dụ: thuế suất thuế TNDN thay đổi từ mức 25% năm 2013 xuống còn 22% năm 2014 và 20% năm 2017, điều này càng làm cho các Nhà quản lý thúc đẩy hành vi gian lận BCTC nhằm điều chỉnh lợi nhuận để tiết kiệm chi phí thuế TNDN; Giả sử thu nhập chịu thuế của năm 2013 là 1.000 thì thuế TNDN phải nộp là 25% x 1.000, khi Doanh nghiệp điều chỉnh thu nhập chịu thuế của năm 2013 xuống còn 800.000 thì thuế TNDN phải nộp là 25% x 800.000, như vậy thuế TNDN phải nộp giảm 50.000 và số thu nhập điều chỉnh giảm năm 2013 là 200.000 sẽ được dịch chuyển sang năm 2014 phần thu nhập được điều chỉnh này sẽ chịu thuế suất TNDN 22%.