Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Hải Lý với đề tài "Nghiên cứu rủi ro và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam" được thực hiện năm 2010 tại Trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, thuộc chuyên ngành Kinh tế – Tài chính – Ngân hàng (mã số 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phan Thị Bích Nguyệt và TS. Nguyễn Thị Liên Hoa.

Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động, từng bước mở ra kênh huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp và tạo môi trường đầu tư cho công chúng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi trên thị trường đối mặt với những vấn đề đặc thù: tỷ lệ sở hữu nhà nước cao trong các công ty niêm yết, tình trạng bất cân xứng thông tin, rào cản trong giao dịch và mức độ chi phối lớn của nhà đầu tư cá nhân. Khoảng trống nghiên cứu được đặt ra là liệu các mô hình định giá tài sản chuẩn tắc trên thế giới có giải thích được tỷ suất sinh lợi tại Việt Nam hay không, nhân tố rủi ro cơ bản hay hành vi của nhà đầu tư đóng vai trò chi phối, và cấu trúc mô hình nhân tố nào là phù hợp để kiểm soát rủi ro thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và các nhân tố rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó xác định các nhân tố rủi ro chủ yếu tác động đến tỷ suất sinh lợi nhằm đề xuất các giải pháp kiểm soát rủi ro thích hợp.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định gồm 6 câu hỏi cụ thể:

  1. Danh mục thị trường có quan hệ thế nào với tỷ suất sinh lợi chứng khoán?
  2. Có mối quan hệ giữa nhân tố quy mô và tỷ suất sinh lợi chứng khoán?
  3. Có mối quan hệ giữa nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường và tỷ suất sinh lợi chứng khoán?
  4. Có mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu nhà nước và tỷ suất sinh lợi chứng khoán?
  5. Các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán quốc tế có phải là các nhân tố rủi ro thị trường?
  6. Hành vi nhà đầu tư có dẫn đến rủi ro thị trường?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là rủi ro và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Việt Nam, tập trung vào thị trường cổ phiếu chính thức niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và chỉ số VN-Index. Luận án lựa chọn HOSE vì sàn này có thời gian hoạt động dài hơn, quy mô vốn hóa và khối lượng giao dịch lớn hơn so với Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), đảm bảo tính đại diện và độ dài của chuỗi dữ liệu phân tích thống kê. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát các chuỗi dữ liệu thứ cấp từ khi thị trường thành lập năm 2000 đến cuối năm 2009 (với các giai đoạn kiểm định chuyên sâu từ 2002 đến 2008 và 2009), cùng dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát 500 nhà đầu tư trên thị trường.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết kinh điển và các công trình thực nghiệm quốc tế về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi theo ba dòng tiếp cận chính:

Thứ nhất, trường phái lý thuyết danh mục và định giá tài sản đơn nhân tố:

  • Lý thuyết danh mục của Harry Markowitz (1952) đặt nền tảng cho việc sử dụng độ lệch chuẩn làm thước đo rủi ro tổng thể và chứng minh vai trò của hiệp phương sai trong việc giảm thiểu phương sai danh mục đầu tư.
  • Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) của William Sharpe (1964) và John Lintner (1965) chuẩn hóa mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng với rủi ro hệ thống (hệ số beta).
  • Các kiểm định thực nghiệm về CAPM tại Mỹ gồm Black, Jensen và Scholes (1972) đề xuất mô hình hai nhân tố (Zero-beta CAPM); Fama và MacBeth (1973) kiểm định tuyến tính đa giai đoạn. Tại các thị trường quốc tế khác, Hodoshima, Garza-gomez và Kunimura (2000) kiểm định tại Nhật Bản; Zhang và Wihlborg (2004) kiểm định tại các thị trường mới nổi Châu Âu (Séc, Hy Lạp, Hungary, Ba Lan, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ); Saens (2004) kiểm định tại Châu Mỹ Latinh (Mexico, Chile, Argentina).

Thứ hai, các mô hình định giá đa nhân tố và kinh tế lượng tài chính:

  • Các bất thường của CAPM liên quan đến các tỷ số giá được phát hiện bởi Banz (1981) về hiệu ứng quy mô; Basu (1983) về tỷ số E/P; Rosenberg, Reid và Lanstein (1985) về tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME); Bhandari (1988) về tỷ số nợ trên vốn cổ phần.
  • Mô hình ba nhân tố của Fama và French (1992, 1993, 1995, 1998) bổ sung nhân tố quy mô (SMB) và nhân tố giá trị (HML) bên cạnh phần bù rủi ro thị trường.
  • Kiểm định thực nghiệm mô hình Fama-French được thực hiện bởi Faff (2001) tại Úc; Maroney và Protopapadakis (2002) tại 7 nước phát triển; Drew và Veeraraghavan (2002, 2003) tại Malaysia, Hong Kong, Hàn Quốc, Philippines và sàn Thượng Hải; Aksu và Onder (2003) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Homsud và Wasunsakul (2009) tại Thái Lan.
  • Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) của Stephen Ross (1976), cùng các nghiên cứu thực nghiệm của Chen, Roll và Ross (1986); Chinhyung Cho, Lemma Senbet và James Bodurtha; Islam (2003); Altay đối với các biến số kinh tế vĩ mô.
  • Mô hình chuỗi thời gian phi tuyến nắm bắt đặc tính biến động co cụm và phương sai thay đổi có điều kiện: Robert Engle (1982) với mô hình ARCH; Tim Bollerslev (1986) với GARCH; Daniel Nelson (1991) với EGARCH; Aggarwal, Inclan và Leal (1999); Kovacic Zlatko (2007).

Thứ ba, trường phái tài chính hành vi:

  • Các nghiên cứu tâm lý học nhận thức của Kahneman và Tversky (1974, 1979) về lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) và các lệch lạc trong nhận thức.
  • Tổng kết của Barberis Nicholas và Richard Thaler (2003) về các hành vi không hợp lý (quá tự tin, tự mãn, nhận thức quá khứ, phản ứng thái quá, phản ứng chậm, tình huống điển hình, kiên định niềm tin, neo giá trị).
  • Giải thích của Lakonishok, Shleifer và Vishny (1994) về phản ứng thái quá của nhà đầu tư đối với cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng trưởng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình tại Việt Nam trước đó chưa kiểm định đồng thời các mô hình định giá đa nhân tố chuẩn tắc kết hợp với các đặc thù về cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp chuyển đổi. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xác định vai trò của nhân tố sở hữu nhà nước trong định giá tài sản và lần đầu tiên kết hợp phương pháp định lượng để đo lường hành vi bầy đàn cùng với khảo sát thực địa hành vi nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng hai khung lý thuyết bổ trợ lẫn nhau:

  1. Tài chính chuẩn tắc (Standard Finance): Dựa trên giả định thị trường hiệu quả và nhà đầu tư hợp lý tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng, sử dụng các mô hình: Lý thuyết danh mục Markowitz, Mô hình CAPM, Mô hình ba nhân tố Fama-French, Lý thuyết APT và họ mô hình phương sai thay đổi có điều kiện GARCH(1,1), EGARCH(1,1).
  2. Tài chính hành vi (Behavioral Finance): Dựa trên Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) với hàm giá trị bất đối xứng (lõm ở miền lãi, lồi ở miền lỗ) và các lệch lạc nhận thức nhằm giải thích các hiện tượng bất thường khi các giả định về sự hợp lý bị vi phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp định lượng:
    • Thống kê mô tả: Đo lường độ nghiêng (Skewness), độ lồi (Kurtosis) để kiểm định tính phân phối chuẩn của chuỗi tỷ suất sinh lợi.
    • Hồi quy chuỗi thời gian đơn biến và đa biến bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để kiểm định mô hình CAPM, mô hình 3 nhân tố Fama-French và mô hình nhân tố điều chỉnh.
    • Ước lượng mô hình GARCH(1,1) và EGARCH(1,1) nhằm phân tích phương sai có điều kiện, độ biến động co cụm và hiệu ứng đòn bẩy phi đối xứng đối với các cú sốc thông tin.
    • Kiểm định định lượng hành vi bầy đàn thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa độ lệch tuyệt đối của tỷ suất sinh lợi các cổ phiếu riêng lẻ so với tỷ suất sinh lợi thị trường trên toàn bộ phân phối cũng như trong các pha thị trường tăng và giảm.
  • Phương pháp định tính và khảo sát thực địa:
    • Phân tích thể chế, cơ chế giao dịch và khung pháp lý điều chỉnh thị trường chứng khoán.
    • Phân tích tình trạng bất cân xứng thông tin qua số liệu sai lệch báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết.
    • Thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát 500 nhà đầu tư để đánh giá hành vi giao dịch, mức độ đa dạng hóa danh mục, chiến lược đầu tư và mức độ am hiểu thị trường.

Nguồn tư liệu và công cụ phân tích

  • Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu chuỗi thời gian giá giao dịch, tỷ suất sinh lợi, giá trị vốn hóa, tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME), tỷ lệ sở hữu nhà nước của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE; chỉ số VN-Index; các chỉ số quốc tế (MSCI Asia, MSCI World, S&P 500) và các biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam.
  • Dữ liệu sơ cấp: 500 bảng câu hỏi khảo sát nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Công cụ phần mềm: Phần mềm thống kê chuyên dụng EViews 6.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về rủi ro và tỷ suất sinh lợi

Chương 1 hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết từ tài chính chuẩn tắc đến tài chính hành vi:

  • Trình bày chi tiết toán học của lý thuyết danh mục Markowitz, xác định phương sai danh mục dựa trên hiệp phương sai giữa các tài sản và cơ chế hình thành đường biên hiệu quả.
  • Phân tích mô hình CAPM của Sharpe và Lintner, đường thị trường vốn (CML), đường thị trường chứng khoán (SML) và hệ số rủi ro hệ thống beta.
  • Trình bày mô hình 3 nhân tố Fama-French (1993): $R_p - R_f = b(R_M - R_f) + s(SMB) + h(HML)$ cùng các tranh luận xoay quanh phần bù quy mô và phần bù giá trị.
  • Trình bày mô hình APT của Ross (1976) và các phương pháp xác định nhân tố kinh tế vĩ mô.
  • Phân tích các đặc tính thực nghiệm của tỷ suất sinh lợi tài chính: phân phối có đuôi dày đỉnh nhọn (Fat-tailed, leptokurtic), phương sai thay đổi co cụm (Volatility clustering) và hiệu ứng đòn bẩy (Leverage effect). Để mô hình hóa các hiện tượng này, tác giả giới thiệu cấu trúc các mô hình ARCH(p), GARCH(1,1) đối xứng và EGARCH(1,1) phi đối xứng của Nelson (1991).
Chỉ số thị trường Độ nghiêng (Skewness) Độ lồi (Kurtosis)
Chỉ số thị trường mới nổi MSCI Asia -0,369 8,392
Thị trường Trung Quốc -0,036 6,898
Thị trường Mỹ -0,385 16,427

Nguồn: Trích xuất từ Bảng 1.1 của luận án (giai đoạn 01/01/2004 – 31/12/2008)

  • Phân tích các phát hiện của tài chính hành vi về các lệch lạc niềm tin (quá tự tin, tự mãn, nhận thức quá khứ, phản ứng thái quá, phản ứng chậm, tình huống điển hình, sự kiên định niềm tin, neo giá trị) và hàm giá trị của lý thuyết triển vọng (Kahneman & Tversky, 1979).

CHƯƠNG 2: Rủi ro và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 2 tập trung vào việc mô tả đặc tính thị trường và kiểm định thực nghiệm các mô hình định giá tại Việt Nam:

  • Tổng quan thực trạng giai đoạn 2000–2009: quy mô vốn hóa, số lượng công ty niêm yết tăng nhanh, tính đầu cơ cao, tỷ suất sinh lợi và độ biến động rủi ro tổng thể rất lớn so với các thị trường trong khu vực và thế giới.
  • Kiểm định mô hình CAPM và Fama-French giai đoạn từ tháng 07/2005 đến tháng 03/2009 trên 4 danh mục cổ phiếu phân loại theo quy mô và tỷ số BE/ME (S/L, S/H, B/L, B/H):
    • Kết quả cho thấy mô hình CAPM truyền thống không giải thích được đầy đủ tỷ suất sinh lợi của các danh mục.
    • Khi kiểm định mô hình ba nhân tố Fama-French, nhân tố quy mô (SMB) thể hiện dấu hiệu bất thường ngược lại với lý thuyết truyền thống: các danh mục công ty quy mô lớn lại mang tỷ suất sinh lợi cao hơn.
  • Phát hiện nhân tố sở hữu nhà nước (BMS - Big minus Small): Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, các công ty có quy mô vốn hóa lớn nhất trên sàn HOSE đều có tỷ lệ sở hữu nhà nước chi phối rất cao (thông qua SCIC hoặc các bộ ngành). Do đó, nhân tố quy mô thực chất phản ánh sự can thiệp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Luận án xây dựng nhân tố BMS đại diện cho sở hữu nhà nước để thay thế hoặc bổ sung trong mô hình định giá.
  • Kiểm định tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô và thị trường quốc tế giai đoạn từ tháng 01/2002 đến tháng 12/2009 thông qua hồi quy đơn biến, hồi quy đa biến và các mô hình GARCH(1,1), EGARCH(1,1):
    • Tỷ suất sinh lợi thị trường có mối liên hệ với các biến động vĩ mô và chịu ảnh hưởng từ diễn biến của thị trường quốc tế (chỉ số MSCI Asia, MSCI World), đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009.
    • Phương sai có điều kiện từ mô hình GARCH và EGARCH khẳng định sự hiện diện rõ rệt của hiện tượng biến động co cụm và tính bất đối xứng trong phản ứng của thị trường trước các cú sốc thông tin.

CHƯƠNG 3: Tác động của tài chính hành vi lên rủi ro và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3 đi sâu làm rõ các nhân tố tâm lý và cấu trúc vận hành thị trường tác động đến rủi ro:

  • Nhận diện các lệch lạc niềm tin trên thị trường Việt Nam: tình trạng phản ứng thái quá trong các đợt bùng nổ giá và hiện tượng bán tháo khi thị trường đảo chiều.
  • Kiểm định định lượng hành vi bầy đàn (Herding Behavior) giai đoạn từ 01/01/2002 đến 31/12/2008:
    • Kết quả kiểm định trên toàn bộ phân phối tỷ suất sinh lợi xác nhận sự tồn tại của hành vi bầy đàn rõ nét.
    • Phân tích phân tách cho thấy hành vi bầy đàn xuất hiện với cường độ mạnh hơn trong các giai đoạn thị trường sụt giảm mạnh so với các giai đoạn thị trường tăng trưởng.
  • Phân tích kết quả khảo sát 500 nhà đầu tư:
    • Phần lớn người tham gia là nhà đầu tư cá nhân có xu hướng lướt sóng ngắn hạn.
    • Danh mục đầu tư có mức độ phân tán rủi ro thấp (nắm giữ số lượng ít cổ phiếu và ít ngành nghề).
    • Quyết định đầu tư chịu tác động mạnh bởi tâm lý đám đông, tin đồn và các diễn biến giá quá khứ gần nhất thay vì phân tích cơ bản dài hạn.
  • Phân tích các giới hạn kinh doanh chênh lệch giá (Limits to Arbitrage):
    • Cơ chế thanh toán T+3 hạn chế khả năng phản ứng linh hoạt và quản trị rủi ro tức thời của nhà đầu tư.
    • Sự thiếu vắng nghiệp vụ bán khống (Short-selling) làm triệt tiêu cơ chế tự sửa sai của thị trường khi cổ phiếu bị định giá quá cao, dẫn đến sự tích tụ bong bóng giá.
    • Sự hạn chế về chủng loại hàng hóa cơ sở và các công cụ phòng ngừa rủi ro.
  • Vấn đề bất cân xứng thông tin:
    • Tỷ lệ sai lệch lớn trong số liệu báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết.
    • Phân tích danh sách các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh chuyển từ lãi sang lỗ sau khi có báo cáo kiểm toán độc lập, làm gia tăng rủi ro thông tin đối với nhà đầu tư.

CHƯƠNG 4: Kiểm soát rủi ro đáp ứng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở các chương trước, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm 5 nhóm:

  1. Nới lỏng các giới hạn kinh doanh chênh lệch giá:
    • Triển khai thí điểm và áp dụng nghiệp vụ bán khống có kiểm soát nhằm tăng tính thanh khoản và hỗ trợ định giá cân bằng.
    • Cải tiến hạ tầng kỹ thuật và quy trình thanh toán bù trừ để từng bước chuyển chu kỳ giao dịch – thanh toán từ T+3 sang T+1.
    • Đa dạng hóa các sản phẩm và hàng hóa cơ sở trên thị trường, nghiên cứu triển khai các công cụ tài chính phái sinh và chứng chỉ quỹ.
  2. Phát triển các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp:
    • Khuyến khích sự phát triển của các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ mở, công ty quản lý quỹ và các nhà đầu tư tổ chức nhằm cân bằng tỷ trọng với nhà đầu tư cá nhân, giảm thiểu các đợt biến động do tâm lý bầy đàn.
  3. Nâng cao chất lượng hoạt động của các công ty niêm yết:
    • Thắt chặt chuẩn mực công bố thông tin, tăng cường quản trị công ty theo thông lệ quốc tế.
    • Nâng cao trách nhiệm giải trình và vai trò giám sát của kiểm toán độc lập để hạn chế sai lệch báo cáo tài chính.
  4. Giải pháp về thông tin:
    • Giảm thiểu mức độ bất cân xứng thông tin trên thị trường thông qua cổng thông tin tập trung, minh bạch hóa việc tiếp cận dữ liệu của tất cả các đối tượng tham gia thị trường.
  5. Các giải pháp khác:
    • Điều hành chính sách kinh tế vĩ mô dựa trên nguyên tắc thị trường, đảm bảo tính nhất quán và có thể dự báo.
    • Xây dựng hệ thống các chỉ số đo lường thành quả đầu tư chuẩn hóa (Performance benchmarks) như tỷ số thông tin (Information ratio).
    • Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu thị trường đầy đủ, chuẩn hóa và cập nhật liên tục để phục vụ nghiên cứu và phân tích.
    • Đẩy mạnh các chương trình đào tạo, phổ biến kiến thức nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp cho nhà đầu tư cá nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ khả năng ứng dụng của các mô hình định giá tài sản hiện đại (CAPM, APT, Fama-French 3 nhân tố, GARCH, EGARCH) tại một thị trường chứng khoán mới nổi có nền kinh tế đang chuyển đổi.
  • Phát hiện nhân tố sở hữu nhà nước (BMS) là một nhân tố rủi ro đặc thù gắn liền với cấu trúc sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Đây là biến số chưa từng được tích hợp trong các mô hình Fama-French chuẩn tắc trên thị trường quốc tế, giúp bổ sung cơ sở lý luận cho việc hiệu chỉnh mô hình định giá tài sản tại các thị trường có đặc điểm tương đồng.
  • Luận án kết hợp đồng thời lý thuyết định giá chuẩn tắc và tài chính hành vi, cung cấp bằng chứng định lượng đầu tiên về sự hiện diện của hành vi bầy đàn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Nhận diện và lượng hóa các nguồn rủi ro hệ thống chi phối thị trường chứng khoán Việt Nam, làm rõ các rào cản vận hành (chu kỳ thanh toán T+3, cấm bán khống, bất cân xứng thông tin kiểm toán) là nguyên nhân làm trầm trọng thêm hành vi phi lý trí của nhà đầu tư.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp cụ thể, mang tính đồng bộ nhằm tháo gỡ rào cản giao dịch, nâng cao chất lượng công bố thông tin, phát triển nhà đầu tư tổ chức và hoàn thiện công cụ quản trị rủi ro thị trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung vào các cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) và chỉ số VN-Index, chưa mở rộng kiểm định toàn diện trên sàn HNX và UPCoM do hạn chế về độ dài dữ liệu lịch sử tại thời điểm nghiên cứu.
  • Thị trường chứng khoán phi chính thức (OTC) có quy mô tương đối lớn nhưng không được đưa vào phân tích do thiếu dữ liệu chuẩn hóa và khó tiếp cận.
  • Chuỗi thời gian hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam tính đến giai đoạn nghiên cứu (2000–2009) còn tương đối ngắn so với các thị trường phát triển.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi kiểm định trên toàn bộ các sàn giao dịch (HOSE, HNX, UPCoM) với chuỗi dữ liệu dài hơn khi thị trường tích lũy đủ độ dày thời gian.
  • Bổ sung và kiểm định thêm các nhân tố vi mô khác (như cơ cấu nợ, khả năng thanh toán, tỷ số P/E) và các biến động kinh tế vĩ mô mới vào mô hình đa nhân tố mở rộng.
  • Đánh giá tác động thực tế của các sản phẩm tài chính phái sinh và sự thay đổi chu kỳ thanh toán khi các cơ chế này được áp dụng trong thực tế.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở giao dịch): Tham khảo Chương 4 về các căn cứ khoa học cho lộ trình rút ngắn chu kỳ thanh toán xuống T+1, triển khai nghiệp vụ bán khống, kiểm soát chất lượng báo cáo kiểm toán và hoàn thiện khung pháp lý giám sát giao dịch.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo Chương 1, Chương 2 và Chương 3 về phương pháp luận kết hợp định giá tài sản đa nhân tố với tài chính hành vi, quy trình xây dựng danh mục đặc tính, kiểm định GARCH/EGARCH và phương pháp lượng hóa hành vi bầy đàn bằng EViews 6.
  • Các tổ chức tài chính, công ty quản lý quỹ và nhà đầu tư: Tham khảo kết quả phân tích về nhân tố sở hữu nhà nước, các lệch lạc tâm lý phổ biến và các chỉ số đo lường thành quả đầu tư để xây dựng chiến lược quản trị danh mục và phòng ngừa rủi ro.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã phát hiện ra nhân tố rủi ro đặc thù nào trên thị trường chứng khoán Việt Nam ngoài mô hình Fama-French chuẩn tắc?
Luận án phát hiện ra nhân tố sở hữu nhà nước (BMS - Big minus Small). Tại Việt Nam, các doanh nghiệp có quy mô vốn hóa lớn thường là các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nhà nước chi phối cao, do đó nhân tố quy mô mang bản chất đại diện cho sự hỗ trợ và bảo trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp.

2. Kết quả kiểm định tính phân phối chuẩn của tỷ suất sinh lợi các chỉ số chứng khoán trong Chương 1 cho thấy điều gì?
Kết quả thống kê Skewness và Kurtosis (như bảng số liệu từ 2004 đến 2008: MSCI Asia có Skewness -0,369, Kurtosis 8,392; Trung Quốc có Skewness -0,036, Kurtosis 6,898; Mỹ có Skewness -0,385, Kurtosis 16,427) khẳng định chuỗi tỷ suất sinh lợi phân phối không chuẩn, có độ lệch âm, đỉnh nhọn và đuôi dày, đòi hỏi phải áp dụng các mô hình họ GARCH để ước lượng.

3. Dữ liệu sơ cấp trong luận án được thu thập như thế nào và phục vụ mục đích gì?
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua cuộc điều tra khảo sát trực tiếp 500 nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhằm phân tích các hành vi giao dịch thực tế, mức độ đa dạng hóa danh mục, mức độ hiểu biết lý thuyết tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.

4. Những giới hạn kinh doanh chênh lệch giá (Limits to Arbitrage) chính nào được luận án chỉ ra tại Việt Nam?
Luận án chỉ ra 3 giới hạn chính: cơ chế giao dịch và thanh toán bù trừ T+3 làm hạn chế phản ứng tức thời; nghiệp vụ bán khống chưa được triển khai làm cản trở quá trình điều chỉnh của các cổ phiếu bị định giá quá cao; và sự hạn chế về chủng loại hàng hóa cơ sở cùng các công cụ phòng ngừa rủi ro.

5. Phần mềm nào được sử dụng chủ đạo cho các phân tích định lượng trong luận án?
Luận án sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng EViews 6 để thực hiện các hồi quy OLS đơn biến, đa biến, ước lượng chuỗi thời gian GARCH(1,1), EGARCH(1,1) và kiểm định các mô hình nhân tố.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hải Lý là công trình nghiên cứu hệ thống về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000–2009. Bằng việc kết hợp lý thuyết tài chính chuẩn tắc và tài chính hành vi, luận án đã chứng minh sự bất cập của các mô hình định giá đơn nhân tố, xác định nhân tố sở hữu nhà nước là một thành tố rủi ro đặc thù và cung cấp bằng chứng thực nghiệm định lượng về hành vi bầy đàn của nhà đầu tư. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát rủi ro và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường vốn Việt Nam.