CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN CỦ A NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀ NG DOANH NGHIỆP LỚN 1. Tổng quan về cho vay 1. Định nghĩa Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra lợi nhuận.
Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và loại hình cho vay càng trơ nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. khu vực cho vay ngắn hạn nhường chổ cho thị trương tài chính - tiền tệ cung ứng. ngược lại ở hầu hết các nước đang phát triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát…) Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi hàng hoá hiện tại lấy một hàng hoá tương lai”.
Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào cũng vì có sữ xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng. Như vậy, chúng ta có thể rút ra được “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Đây là định nghĩa được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Đặc điểm của hoạt động cho vay Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2011) đưa ra những đặc trưng của tín dụng ngân hàng gồm: Tài sản giao dịch trong quan hệ cho vay là tiền tệ.
Rủi ro trong cho vay ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn. Rủi ro cho vay sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố khả năng trả nợ và/hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ. Trong đó thiện chí trả nợ là yếu tố vô hình, do vậy rủi ro cho vay là yếu tố xuất phát từ bản chất của quan hệ cho vay, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro cho vay. Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của cho vay nói chung và hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng.
Phần lãi là giá phải trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi. Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất dương. Để hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi phải cân nhắc hai yếu tố căn bản sau đây: (i) xác định thời hạn và kỳ hạn cho vay phải hợp lý, (ii) chính sách lãi suất cho vay cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng và được nền kinh tế chấp nhận. Sự hoàn trả trong cho vay ngân hàng là vô điều kiện.
Các chứng từ được hình thành trong quan hệ cho vay Ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nhận nợ…đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn. Đây chính là những ràng buộc pháp lý mà khách hàng phải tuân thủ trong quá trình ngân hàng cho vay. Vai trò của hoạt động cho vay đối với nền kinh tế Nguyễn Văn Tiến (2009) nêu lên vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế gồm: Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của hoạt động cho vay của ngân hàng là luân chuyển vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế.
Thứ hai, hoạt động cho vay của ngân hàng giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và tăng năng suất lao động. Thứ ba, thông qua việc đầu tư vốn huy động vào những ngành, nghề, khu vực kinh tế trọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó và hình thành nên cơ cấu hiện đại, hợp lý và hiệu quả. Thứ tư, hoạt động cho vay góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị dòng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước. Thứ năm, hoạt động cho vay mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của chính phủ.
Thứ sáu, hoạt động cho vay là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội. ̣ về khách hàng Doanh nghiệp lớn. Các đă ̣c điể m của khách 1. Khái niêm hàng Doanh nghiệp lớn 1.
Khái niệm về Doanh nghiệp lớn Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014 định nghĩa “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động với nhiều hình thức đa dạng và phong phú: Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh… và được phân loại dựa trên tiêu chí qui mô kinh doanh. Tại Châu Âu, doanh nghiệp được gọi là DNL khi thỏa mãn bất kỳ điều kiện nào trong 3 điều sau: số lao động lớn hơn 250 người, doanh thu trên 50 triệu euro, tổng tài sản 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn hơn 43 triệu euro (theo trang ec.eu) Tại Mỹ, DNL là doanh nghiệp đóng thuế nhiều hơn 1 triệu USD/năm tại bất kỳ năm nào trong vòng 3 năm gần nhất hoặc trong thời gian thành lập doanh nghiệp (nếu thời gian thành lập < 3 năm) (theo trang web của Sở thuế vụ Mỹ: www. Tại Nhật, DNL là công ty cổ phần (đã niêm yết đại chúng) có vốn điều lệ lớn hơn 500 triệu yên Nhật hoặc có khoản mục Nợ phải trả lớn hơn 20 triệu yên Nhật trong báo cáo tài chính gần nhất (theo Tổ chức WIPO – Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, www.int) Hiện nay tại Việt Nam, theo điều 3 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính Phủ, DNL là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 100 tỷ đồng và có số lao động hơn 300 người đối với các ngành nông lâm nghiệp thủy sản và công nghiệp xây dựng.
Đối với ngành thương mại và dịch vụ, DNL là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn lớn hơn 50 tỷ đồng và có số lao động hơn 100 người. Theo quy định của NHCT, khách hàng DNL được định nghĩa là “các khách hàng DNL, khách hàng doanh nghiệp siêu lớn, khách hàng doanh nghiệp FDI lớn (không bao gồm các khách hàng tổng công ty, tập đoàn nhà nước) và các phân khúc khách hàng doanh nghiệp khác theo quy định từng thời kỳ. Khách hàng DNL được căn cứ vào doanh thu thuần, số dư tiền gửi/ tiền vay bình quân tại NCHT, và tổng mức đầu tư dự án của doanh nghiệp. Cụ thể: Bảng 1.1 : Tiêu chí xác định doanh nghiệp lớn của NHCT 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đơn vị: tỷ đồng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiêu chí phân khúc Doanh Số dư bình Nhóm Tổng mức đầu tư thu quân phân Phân khúc thuần khúc Tổng Tiền Tiền Lĩnh vực mức vay gửi đầu tư KHDN KH Tập đoàn, Theo danh sách của NHCT theo từng thời kỳ lớn tổng công ty nhà nước KHDN Siêu lớn Năng lượng, Đầu tư ≥ 2.000 ≥ 200 ≥ 20 các dự án giao thông BOT, Kinh doanh bất động sản Khách sạn /Resort ≥ 1.000 KHDN Lớn Năng lượng, Đầu tư 1.000 ≤ 500 ≤ 50 ≤ 5 ≤ các dự án giao thông 2.000 200 20 BOT, Kinh doanh bất động sản Khách sạn/ Resort 300 ≤ 1.000 Ban Quản lý dự án 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KHDN KHDN FDI Lớn ≥ 500 ≥ 100 ≥ 25 FDI Nguồn: Công văn số 14859_NHCT60 của NHCT 1.
Vai trò của các doanh nghiệp lớn đối với nền kinh tế Tại Việt Nam, phân tích về các DNL thường nhấn mạnh vào những yếu kém và phi hiệu quả của các tập đoàn kinh tế nhà nước, trong khi các vấn đề chính sách về quản lý, giám sát và khuyến khích phát triển các DNL, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn, ít được đề cập và nghiên cứu. Cho dù tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần được ghi nhận và tôn vinh, không nên phủ nhận vai trò khó thay thế của các DNL trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam. Chúng ta nhận thấy: DNL đóng góp phần quyết định vào việc định hướng thị trường: Ngành nghề tập trung chủ yếu là các doanh nghiệp khai thác kinh doanh tài nguyên khoáng sản như: dầu khí, than và các ngành kinh tế nhà nước nắm thế độc quyền như: hàng không, ngân hàng, tài chính, viễn thông, điện lực…đó là các ngành nghề mang tính chất quyết định vào sự bình ồn của thị trường. Các DNL đóng vai trò chính trị giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế: Do các DNL ở VN hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nứơc, có tới hơn một nửa doanh nghiệp trong danh sách 500 DNL nhất VN là doanh nghiệp nhà nước vì vậy nhà nước có thể tác động dễ dàng tới các DNL để điều khiển nền kinh tế theo ý muốn.
Sự ổn định của các DNL liên quan tới sự ổn định của thị trường: Sự phá sản của một tập đoàn kinh tế lớn có thể dẫn tới sự bất ổn định của toàn nền kinh tế.