Nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Nghiên cứu rủi ro tài chính doanh nghiệp BĐS niêm yết tại Việt Nam. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp quản trị rủi ro hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

87
12
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Bố cục nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm rủi ro tài chính

1.1.1. Khái quát về rủi ro trong doanh nghiệp

1.1.2. Khái niệm về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp

1.1.3. Các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính

1.2. Tác động của rủi ro tài chính tới doanh nghiệp

1.3. Các phương pháp, mô hình định lượng đo lường rủi ro tài chính

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Các nghiên cứu quốc tế

2.2. Các nghiên cứu trong nước

2.3. Khoảng trống nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng ngành Bất động sản Việt Nam và rủi ro tài chính của các doanh nghiệp bất động sản

4.1.1. Thực trạng ngành bất động sản Việt Nam

4.1.2. Thực trạng rủi ro tài chính của doanh nghiệp bất động sản

4.2. Kết quả nghiên cứu định lượng

4.2.1. Thống kê mô tả

4.2.2. Phân tích tương quan và kiểm tra đa cộng tuyến

4.2.2.1. Phân tích tương quan các biến trong mô hình
4.2.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến

4.2.3. Kết quả hồi quy mô hình

4.2.3.1. Kiểm định lựa chọn mô hình
4.2.3.2. Kiểm định F-test
4.2.3.3. Kiểm định nhân tử Lagrange (Breusch – Pagan Lagrange Multiplier)
4.2.3.4. Kiểm định Hausman
4.2.3.5. Kiểm định các các khuyết tật của mô hình FEM
4.2.3.6. Kiểm định Phương sai sai số thay đổi
4.2.3.7. Kiểm định hiện tượng tự tương quan
4.2.3.8. Khắc phục các khuyết tật của mô hình FEM

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÀI CHÍNH CHO CÁC DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

5.1. Tổng quát kết quả nghiên cứu

5.2. Hàm ý quản trị và kiến nghị giải pháp

5.2.1. Đối với các doanh nghiệp BĐS

5.2.2. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Rủi Ro Tài Chính BĐS Niêm Yết

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, doanh nghiệp Việt Nam đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính. Ngành bất động sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do biến động thị trường và chính sách. Năm 2022, thị trường bất động sản gặp nhiều khó khăn, từ thắt chặt tín dụng đến suy giảm thanh khoản, đẩy doanh nghiệp vào nguy cơ rủi ro tài chính. Nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính giúp doanh nghiệp nhận diện và kiểm soát rủi ro hiệu quả. Việc này có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần thiết phải "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".

1.1. Tầm quan trọng của tài chính đối với doanh nghiệp BĐS

Tài chính là huyết mạch của mọi doanh nghiệp. Bất kỳ tổn thương nào đến tài chính đều có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Rủi ro tài chính doanh nghiệp bất động sản (RRTC) cần được nghiên cứu để kiểm soát các biến động ảnh hưởng đến nó. Mohamad (2011) nhấn mạnh rằng tài chính là bộ phận không thể thiếu đối với quá trình vận hành của bất kỳ doanh nghiệp nào. Yasheng (2016) cũng khẳng định tầm quan trọng then chốt của tài chính đối với thành tựu và phát triển của doanh nghiệp trong mọi nền kinh tế.

1.2. Bối cảnh rủi ro tài chính BĐS năm 2022 và thách thức

Năm 2022 đánh dấu một năm đầy thách thức cho thị trường bất động sản. Sức ép từ nguồn vốn, thắt chặt tín dụng, đình trệ thị trường trái phiếu và biến động lãi suất đã khiến các doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn. Các doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng tài chính bất động sản. Vì vậy, phân tích các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến RRTC doanh nghiệp là rất cần thiết.

II. Rủi Ro Tài Chính DN BĐS Khái Niệm Bản Chất Cốt Lõi

Rủi ro là một phần tất yếu của hoạt động kinh doanh. Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro. Quan điểm truyền thống coi rủi ro là điều không may mắn, tiêu cực. Quan điểm hiện đại nhìn nhận rủi ro một cách trung hòa hơn, coi rủi ro là sự không chắc chắn có thể mang lại cả cơ hội và thách thức. Rủi ro tài chính là một trong những loại rủi ro phức tạp nhất. Nó liên quan đến khả năng mất vốn, không thanh toán được nợ, hoặc biến động tỷ suất sinh lời. Việc hiểu rõ khái niệm và bản chất của rủi ro tài chính doanh nghiệp là rất quan trọng để quản trị rủi ro hiệu quả.

2.1. Quan điểm truyền thống và hiện đại về rủi ro trong doanh nghiệp

Quan điểm truyền thống (Haynes, 1895) định nghĩa rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất. Từ điển Oxford coi rủi ro là khả năng xảy ra điều gì đó tồi tệ. Ngược lại, quan điểm hiện đại (Willett, 1901) xem rủi ro là sự không chắc chắn khách quan hóa đối với sự kiện không mong muốn. PMBOK6 (2017) định nghĩa rủi ro là sự kiện không chắc chắn có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến mục tiêu dự án.

2.2. Định nghĩa và phân loại rủi ro tài chính doanh nghiệp BĐS

Brigham & Houston (2009) định nghĩa rủi ro tài chính là rủi ro có thể dẫn đến mất vốn. Li (2003) cho rằng rủi ro tài chính liên quan đến sự không chắc chắn của lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu. Defan (2005) phân chia rủi ro tài chính thành nghĩa rộng (tình hình tài chính doanh nghiệp) và nghĩa hẹp (khả năng thanh toán nợ). Napp (2011) chia rủi ro tài chính thành rủi ro môi trường và rủi ro nội tại.

2.3. Rủi ro tài chính dưới góc độ DN Việt Nam

Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008) cho rằng RRTC là sự giao động tỷ lệ thuận của tỷ suất sinh lời VCSH, làm mất khả năng thanh toán. Vũ Thị Hậu (2013) chia RRTC thành nghĩa rộng (tổn thất hoạt động tài chính) và nghĩa hẹp (tổn thất khi huy động vốn). Đàm Thị Thanh Huyền (2021) xem xét RRTC liên quan đến sự thay đổi giá cả, lãi suất, tỷ giá.

III. Cách Phân Tích Rủi Ro Tài Chính DN BĐS Niêm Yết Chi Tiết

Phân tích rủi ro tài chính là quá trình xác định, đo lường và đánh giá các rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải. Các phương pháp phân tích bao gồm phân tích định lượng và định tính. Phân tích định lượng sử dụng các mô hình toán học và thống kê để đo lường mức độ rủi ro. Phân tích định tính dựa trên kinh nghiệm và phán đoán của chuyên gia để đánh giá khả năng xảy ra và tác động của rủi ro. Một số phương pháp phân tích định lượng phổ biến là mô hình Z-score, mô hình Altman và mô hình hồi quy. Kết quả phân tích cung cấp thông tin quan trọng cho việc quản trị rủi ro và đưa ra quyết định đầu tư.

3.1. Các phương pháp định lượng đo lường rủi ro tài chính BĐS

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để đo lường RRTC, bao gồm mô hình Z-score và mô hình Altman, là những mô hình thống kê được sử dụng để đánh giá khả năng phá sản của doanh nghiệp. Đồng thời, sử dụng mô hình hồi quy để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến RRTC.

3.2. Phân tích báo cáo tài chính DN BĐS Chỉ số và dấu hiệu rủi ro

Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng để phân tích rủi ro. Các chỉ số như tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, khả năng thanh toán lãi vay, vòng quay tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu giúp đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp. Cần phát hiện các dấu hiệu rủi ro từ báo cáo tài chính để có biện pháp phòng ngừa.

IV. Giải Pháp Giảm Thiểu Rủi Ro Tài Chính BĐS Niêm Yết Hiện Nay

Giảm thiểu rủi ro tài chính là một quá trình liên tục và đòi hỏi sự chủ động từ phía doanh nghiệp. Các giải pháp bao gồm quản lý dòng tiền hiệu quả, kiểm soát chi phí, đa dạng hóa nguồn vốn, sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, và xây dựng hệ thống quản trị rủi ro toàn diện. Doanh nghiệp cũng cần chủ động theo dõi và đánh giá các yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng đến rủi ro tài chính, như biến động thị trường và chính sách của chính phủ.

4.1. Quản lý dòng tiền và kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp BĐS

Quản lý dòng tiền là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro thanh khoản. Doanh nghiệp cần kiểm soát chi phí hiệu quả để tăng lợi nhuận và giảm áp lực tài chính. Quản trị dòng tiền và chi phí là hai nội dung cần được quan tâm nhiều nhất. Cần kiểm soát và quản lí chi phí một cách hiệu quả.

4.2. Đa dạng hóa nguồn vốn và sử dụng công cụ phái sinh giảm rủi ro

Đa dạng hóa nguồn vốn giúp doanh nghiệp giảm sự phụ thuộc vào một nguồn vốn duy nhất. Sử dụng các công cụ phái sinh (ví dụ: hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi) giúp phòng ngừa rủi ro lãi suất, tỷ giá. Đây là giải pháp hữu hiệu, được nhiều doanh nghiệp sử dụng.

4.3. Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro toàn diện cho DN BĐS

Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro giúp doanh nghiệp nhận diện, đánh giá và kiểm soát rủi ro một cách có hệ thống. Cần có quy trình, chính sách rõ ràng để quản trị rủi ro hiệu quả. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản trị rủi ro cho riêng mình.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Thực Tế Rủi Ro Tài Chính BĐS VN

Nghiên cứu thực tế về rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình thực tế và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các mô hình dự báo rủi ro và đưa ra các khuyến nghị chính sách cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về chủ đề này để nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho ngành bất động sản Việt Nam.

5.1. Tổng quan thực trạng ngành BĐS Việt Nam và rủi ro tài chính

Ngành bất động sản Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, từ biến động thị trường đến chính sách tín dụng. Rủi ro tài chính là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp. Cần đánh giá thực trạng ngành để có cái nhìn toàn diện về rủi ro.

5.2. Kết quả nghiên cứu định lượng về nhân tố tác động RRTC BĐS

Nghiên cứu định lượng giúp xác định các nhân tố chính tác động đến RRTC doanh nghiệp. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy các nhân tố như đòn bẩy tài chính, thanh khoản, và hiệu quả hoạt động có ảnh hưởng đáng kể. Cần phân tích kỹ kết quả nghiên cứu để có giải pháp phù hợp.

VI. Kiến Nghị Triển Vọng Quản Trị Rủi Ro Tài Chính BĐS Niêm Yết

Quản trị rủi ro tài chính hiệu quả là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp bất động sản. Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hệ thống quản trị rủi ro, đa dạng hóa nguồn vốn, và quản lý dòng tiền hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh ổn định, và tăng cường giám sát thị trường. Trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về các mô hình quản trị rủi ro tiên tiến và ứng dụng công nghệ trong quản trị rủi ro tài chính.

6.1. Giải pháp giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý

Doanh nghiệp cần tập trung vào quản lý dòng tiền, kiểm soát chi phí, và đa dạng hóa nguồn vốn. Cơ quan quản lý cần có chính sách hỗ trợ, tạo môi trường kinh doanh ổn định, và tăng cường giám sát. Doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần phối hợp chặt chẽ để giảm thiểu rủi ro.

6.2. Triển vọng và xu hướng quản trị rủi ro tài chính BĐS tương lai

Trong tương lai, quản trị rủi ro tài chính sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Các mô hình quản trị rủi ro tiên tiến và ứng dụng công nghệ sẽ được áp dụng rộng rãi. Cần theo dõi và nắm bắt các xu hướng mới để nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro.

26/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm rủi ro tài chính 1. Khái quát về rủi ro trong doanh nghiệp Sự phát triển của loài người cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm cho hoạt động của con người nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên đa dạng, phong phú.

Như vậy, rủi ro tiềm ẩn trong đó ngày càng nhiều với các phương thức khác nhau. Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro: ● Theo quan điểm truyền thống (Theo trường phái tiêu cực) Trong từ điển tiếng việt: “Rủi ro là điều không lành mạnh, không tốt bất ngờ xảy ra”. Ngoài ra, từ điển Oxford định nghĩa: “Rủi ro (Risk) là khả năng xảy ra điều gì đó tồi tệ vào một thời điểm nào đó trong tương lai; một tình huống có thể nguy hiểm hoặc có một kết quả xấu”. Trên thế giới, có thể coi Haynes (1895) là một trong những người đã đưa khái niệm đầu tiên về rủi ro trong nghiên cứu “Risk as an economic factor”, với định nghĩa rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.

Trong cuốn sách “Quản trị tài chính”, nhóm tác giả Houston & Brigham (2009) với nhận định rủi ro là khả năng các sự kiện không mong đợi sẽ xảy ra. Một số tổ chức hiệp hội ở một số nước trước đây như: Hiệp hội tiêu chuẩn Canada, Hiệp hội nghiên cứu và thông tin xây dựng Anh quốc, tổ chức viễn thông và máy tính trung tâm Anh quốc,.(1980) định nghĩa rủi ro là khả năng xuất hiện của các sự kiện, tình huống hiểm họa, mất mát và hậu quả để lại không dự đoán trước được. Tại Việt Nam, có một số quan điểm khác nhau về rủi ro. Cụ thể, Nguyễn Hữu Thân (1991) đưa ra khái niệm “rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”.

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Quy và cộng sự (2009) với cuốn sách Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, đã chỉ rõ quan điểm của họ về rủi ro đó là: “rủi ro là tình huống thế giới khách quan trong đó tồi tại khả năng xảy năng xảy ra sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hay mong chờ”. 4 ● Theo quan điểm hiện đại (Trường phái trung hòa) Trong cuốn sách “The economy theory of risk and insurance”, quan điểm của Willett (1901) cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn được khách quan hóa đối với sự kiện không mong muốn. Nó thay đổi theo sự không chắc chắn và không theo mức độ xác suất hay có thể xác định trong một số trường hợp bằng cách quan sát trực tiếp các điều kiện mà khả năng xảy ra sự kiện phụ thuộc vào. Hoặc bằng cách gián tiếp, rủi ro có thể xác định thông qua nghiên cứu thống kê và kết quả của kinh nghiệm trong quá khứ.

Trong khi đó, Knight (1957) đã khám phá ra sự khác biệt giữa rủi ro có thể tính toán được và sự không chắc chắn. Ông lập luận rằng rủi ro (Risk) bắt nguồn từ các sự kiện lặp đi lặp lại, do đó cho phép các xác suất được tính toán và đưa vào các quyết định. Tuy nhiên, sự không chắc chắn (Uncertainty) bắt nguồn từ các sự kiện không thể đoán trước và do đó không thể chuẩn bị trước. Ngoài ra, PMBOK6 (2017) đã định nghĩa rủi ro như sau “Một sự kiện hoặc điều kiện không chắc chắn, nếu nó xảy ra, có tác động mang đến sự tích cực hoặc tiềm ẩn mối đe dọa tiêu cực đối với một hoặc nhiều mục tiêu dự án.” Tuy nhiên, Lechler và cộng sự (2012) đã phân biệt rõ sự khác biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn, rằng sự không chắc chắn bao gồm tất cả các rủi ro đã xác định, nhưng rủi ro không bao gồm sự không chắc chắn.

Cùng với đó, William và cộng sự (1998) đã mở ra khái niệm rộng hơn: rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của các kết quả trong cuốn “Risk management and insurance”. Hay hiệp hội quản lý dự án Anh quốc cho rằng: Rủi ro là sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi các mục tiêu của dự án. Ngoài ra, tiêu chuẩn quản lý rủi ro của Úc và New Zealand cũng đưa ra định nghĩa: “Rủi ro là khả năng gây sự kiện tác động ảnh hưởng đến các mục tiêu”. Với góc nhìn rộng hơn tại Việt Nam, Phạm Quang Hiệu (2021) coi đây là sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi mục tiêu của dự án.

Khi xét cụ thể về đối tượng là doanh nghiệp, Đàm Thị Thanh Huyền và cộng sự (2021) đã thống nhất quan điểm: “Rủi ro đối với doanh nghiệp là sự biến động hay sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng”. Khái niệm về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp Rủi ro tài chính (RRTC), tên tiếng anh gọi là “Financial risk”, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực và địa lý. Thực tế, đã và đang có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Trên thế giới, có nghiên cứu của Brigham & Houston (2009) đưa ra quan điểm: Rủi ro tài chính là loại rủi ro có thể dẫn đến mất vốn của nhiều đối tượng khác nhau như chính phủ, các tập đoàn, thị trường hay cá nhân.

Rủi ro tài chính tiềm mặt ở khắp mọi nơi, với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Thông thường được đề cập đến nhiều nhất liên quan đến việc khả năng dòng tiền của công ty không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, Li (2003) đưa ra quan điểm: Rủi ro tài liên quan đến sự không chắc chắn của một số yếu tố như lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu và giá hàng hóa gọi là rủi ro tài chính. Ngoài ra, Defan (2005) lại phân chia rủi ro tài chính một cách rộng mở hơn về 2 khía cạnh.

Theo nghĩa rộng, rủi ro tài chính liên quan đến tất cả yếu tố phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Còn với nghĩa hẹp, rủi ro tài chính phản ánh khả năng không thanh toán được các khoản nợ tài chính khi đến hạn. Đồng tình với quan điểm theo nghĩa hẹp của Defan (2005), Ennouri (2013) khẳng định rủi ro tài chính có nghĩa là sự tiếp xúc của một công ty với những tổn thất tiềm tàng trong tương lai. Những tổn thất đó có thể phát sinh từ những thay đổi trên thị trường tài chính, từ việc các doanh nghiệp mắc nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.

Đi sâu về vấn đề này, Horcher (2011) cho rằng rủi ro tài chính phát sinh thông qua vô số giao dịch có tính chất tài chính, bao gồm mua bán, đầu tư và cho vay, và các hoạt động khác hoạt động kinh doanh. Nó có thể phát sinh do các giao dịch pháp lý, dự án mới, sáp nhập và mua lại, tài trợ nợ, thành phần năng lượng của chi phí, hoặc thông qua các hoạt động của ban quản lý, các bên liên quan, đối thủ cạnh tranh, chính phủ nước ngoài hoặc thậm chí cả thời tiết. Cách phân loại được sử dụng bởi Eichhorn (2004) cung cấp một cách tiếp cận có giá trị để xác định và nắm bắt rủi ro tài chính: ông phân biệt rủi ro tài chính bên ngoài và bên trong. Theo quan điểm của ông, rủi ro tài chính bên ngoài là kết quả của những thay đổi về tài chính thị trường, trong khi rủi ro tài chính nội bộ do chính doanh nghiệp 6 gây ra.

Đồng tình với quan điểm này, Napp (2011) cho rằng RRTC đến từ rủi ro môi trường và rủi ro nội tại. Rủi ro môi trường phụ thuộc vào những thay đổi trên thị trường tài chính như: tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa… Rủi ro nội tại bắt nguồn từ tình hình tài chính của DN. Cùng với đó, theo Zhea & cộng sự (2012) nhận đình RRTC là xác suất mất vốn khi sử dụng các phương pháp tài trợ, điều này làm giảm khả năng DN hoạt động trở lại. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008) cho rằng RRTC là sự giao động hay tính biến đổi tỷ lệ thuận của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (VCSH) hoặc thu nhập trên một cổ phiếu, đồng thời làm mất khả năng thanh toán có xác suất tăng khi DN sử dụng vốn vay và các nguồn tài trợ khác có chi phí tài chính cố định.

Bên cạnh đó, Vũ Thị Hậu (2013) cho rằng RRTC bao gồm: rủi ro theo nghĩa rộng và rủi ro theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: RRTC là khả năng xảy ra những tổn thất gắn liền với hoạt động tài chính như: đầu tư, vay nợ, mua bán… có gắn liền với những tác động bên ngoài DN như sự thay đổi thể chế chính sách của Chính phủ, của môi trường chính trị, yếu tố thiên tai. Theo nghĩa hẹp, RRTC là khả năng xảy ra tổn thất DN phải chịu khi huy động vốn từ nguồn vốn đi chiếm dụng để đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Mặt khác, Phạm Tuấn Anh (2017) cho rằng RRTC của DN là rủi ro đối với quá trình tài trợ và đầu tư các quỹ của DN, là nguyên nhân gây ra sự bất định trong quản trị tài chính DN.

Hay như Đàm Thị Thanh Huyền và cộng sự (2021) trên cơ sở quan điểm về rủi ro, đã cho rằng rủi ro tài chính của doanh nghiệp liên quan đến sự thay đổi giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và việc thực hiện các quyết định tài chính của doanh nghiệp làm biến động tỷ số sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Từ các quan điểm đi trước, tác giả nhận thấy rằng rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp huy động và sử dụng nguồn vốn nợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụm từ này phản ảnh những nhân tố bên trong và bên ngoài tác động lên tình hình tài chính của doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là việc họ sẽ mất khả năng thanh toán các khoản nợ tài chính khi đến hạn, điều đó có thể ảnh hưởng đến việc hoạt động sản xuất và kinh doanh, danh tiếng, thậm chí có thể đưa doanh nghiệp, tổ chức tài chính đó đến bờ vực phá sản.

Các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính ● Nhân tố bên trong doanh nghiệp - Cơ cấu nợ: Theo lý thyết đánh đổi của Modigliani và Miller (1963), khi giá trị công ty đạt điểm tối ưu có nghĩa là xác định được cơ cấu vốn tối ưu (Tỷ trọng nợ và VCSH tối ưu).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bạn đang tìm hiểu về rủi ro tài chính trong lĩnh vực bất động sản niêm yết? Tài liệu "Nghiên cứu Rủi Ro Tài Chính Doanh Nghiệp Bất Động Sản Niêm Yết: Phân Tích và Giải Pháp" sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quan về các loại rủi ro mà các doanh nghiệp này phải đối mặt, từ rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, đến rủi ro thị trường và rủi ro pháp lý. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nguyên nhân và tác động của từng loại rủi ro mà còn đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro hiệu quả, giúp doanh nghiệp ổn định và phát triển bền vững.

Để hiểu sâu hơn về quản lý tài chính trong lĩnh vực bất động sản, bạn có thể tham khảo thêm Tiểu luận financial statement and management analysis of vinhomes joint stock company over the period of 2018 to 2020. Tài liệu này sẽ giúp bạn phân tích báo cáo tài chính của một doanh nghiệp bất động sản cụ thể, từ đó nắm bắt được các chỉ số quan trọng và đánh giá khả năng sinh lời, khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Nếu bạn quan tâm đến yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp bất động sản, hãy xem The impact of working capital management on the profit rate of real estate enterprise estates listed on the vietnam stock market. Nghiên cứu này giúp bạn nắm bắt được cách quản lý vốn lưu động hiệu quả có thể gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Cuối cùng, nếu bạn muốn hiểu thêm về các yếu tố tác động đến giá đất, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp bất động sản, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến giá đất ở trên địa bàn thị trấn hữu lũng huyện hữu lũng tỉnh lạng sơn giai đoạn 2013 2014 là một tài liệu hữu ích.