CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm rủi ro tài chính 1. Khái quát về rủi ro trong doanh nghiệp Sự phát triển của loài người cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm cho hoạt động của con người nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên đa dạng, phong phú.
Như vậy, rủi ro tiềm ẩn trong đó ngày càng nhiều với các phương thức khác nhau. Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro: ● Theo quan điểm truyền thống (Theo trường phái tiêu cực) Trong từ điển tiếng việt: “Rủi ro là điều không lành mạnh, không tốt bất ngờ xảy ra”. Ngoài ra, từ điển Oxford định nghĩa: “Rủi ro (Risk) là khả năng xảy ra điều gì đó tồi tệ vào một thời điểm nào đó trong tương lai; một tình huống có thể nguy hiểm hoặc có một kết quả xấu”. Trên thế giới, có thể coi Haynes (1895) là một trong những người đã đưa khái niệm đầu tiên về rủi ro trong nghiên cứu “Risk as an economic factor”, với định nghĩa rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.
Trong cuốn sách “Quản trị tài chính”, nhóm tác giả Houston & Brigham (2009) với nhận định rủi ro là khả năng các sự kiện không mong đợi sẽ xảy ra. Một số tổ chức hiệp hội ở một số nước trước đây như: Hiệp hội tiêu chuẩn Canada, Hiệp hội nghiên cứu và thông tin xây dựng Anh quốc, tổ chức viễn thông và máy tính trung tâm Anh quốc,.(1980) định nghĩa rủi ro là khả năng xuất hiện của các sự kiện, tình huống hiểm họa, mất mát và hậu quả để lại không dự đoán trước được. Tại Việt Nam, có một số quan điểm khác nhau về rủi ro. Cụ thể, Nguyễn Hữu Thân (1991) đưa ra khái niệm “rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại”.
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Quy và cộng sự (2009) với cuốn sách Quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, đã chỉ rõ quan điểm của họ về rủi ro đó là: “rủi ro là tình huống thế giới khách quan trong đó tồi tại khả năng xảy năng xảy ra sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hay mong chờ”. 4 ● Theo quan điểm hiện đại (Trường phái trung hòa) Trong cuốn sách “The economy theory of risk and insurance”, quan điểm của Willett (1901) cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn được khách quan hóa đối với sự kiện không mong muốn. Nó thay đổi theo sự không chắc chắn và không theo mức độ xác suất hay có thể xác định trong một số trường hợp bằng cách quan sát trực tiếp các điều kiện mà khả năng xảy ra sự kiện phụ thuộc vào. Hoặc bằng cách gián tiếp, rủi ro có thể xác định thông qua nghiên cứu thống kê và kết quả của kinh nghiệm trong quá khứ.
Trong khi đó, Knight (1957) đã khám phá ra sự khác biệt giữa rủi ro có thể tính toán được và sự không chắc chắn. Ông lập luận rằng rủi ro (Risk) bắt nguồn từ các sự kiện lặp đi lặp lại, do đó cho phép các xác suất được tính toán và đưa vào các quyết định. Tuy nhiên, sự không chắc chắn (Uncertainty) bắt nguồn từ các sự kiện không thể đoán trước và do đó không thể chuẩn bị trước. Ngoài ra, PMBOK6 (2017) đã định nghĩa rủi ro như sau “Một sự kiện hoặc điều kiện không chắc chắn, nếu nó xảy ra, có tác động mang đến sự tích cực hoặc tiềm ẩn mối đe dọa tiêu cực đối với một hoặc nhiều mục tiêu dự án.” Tuy nhiên, Lechler và cộng sự (2012) đã phân biệt rõ sự khác biệt giữa rủi ro và sự không chắc chắn, rằng sự không chắc chắn bao gồm tất cả các rủi ro đã xác định, nhưng rủi ro không bao gồm sự không chắc chắn.
Cùng với đó, William và cộng sự (1998) đã mở ra khái niệm rộng hơn: rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của các kết quả trong cuốn “Risk management and insurance”. Hay hiệp hội quản lý dự án Anh quốc cho rằng: Rủi ro là sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi các mục tiêu của dự án. Ngoài ra, tiêu chuẩn quản lý rủi ro của Úc và New Zealand cũng đưa ra định nghĩa: “Rủi ro là khả năng gây sự kiện tác động ảnh hưởng đến các mục tiêu”. Với góc nhìn rộng hơn tại Việt Nam, Phạm Quang Hiệu (2021) coi đây là sự kiện không chắc chắn hoặc tập hợp các hoàn cảnh tác động làm thay đổi mục tiêu của dự án.
Khi xét cụ thể về đối tượng là doanh nghiệp, Đàm Thị Thanh Huyền và cộng sự (2021) đã thống nhất quan điểm: “Rủi ro đối với doanh nghiệp là sự biến động hay sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng”. Khái niệm về rủi ro tài chính trong doanh nghiệp Rủi ro tài chính (RRTC), tên tiếng anh gọi là “Financial risk”, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực và địa lý. Thực tế, đã và đang có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Trên thế giới, có nghiên cứu của Brigham & Houston (2009) đưa ra quan điểm: Rủi ro tài chính là loại rủi ro có thể dẫn đến mất vốn của nhiều đối tượng khác nhau như chính phủ, các tập đoàn, thị trường hay cá nhân.
Rủi ro tài chính tiềm mặt ở khắp mọi nơi, với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Thông thường được đề cập đến nhiều nhất liên quan đến việc khả năng dòng tiền của công ty không đủ để đáp ứng các nghĩa vụ của công ty. Trong khi đó, Li (2003) đưa ra quan điểm: Rủi ro tài liên quan đến sự không chắc chắn của một số yếu tố như lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu và giá hàng hóa gọi là rủi ro tài chính. Ngoài ra, Defan (2005) lại phân chia rủi ro tài chính một cách rộng mở hơn về 2 khía cạnh.
Theo nghĩa rộng, rủi ro tài chính liên quan đến tất cả yếu tố phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Còn với nghĩa hẹp, rủi ro tài chính phản ánh khả năng không thanh toán được các khoản nợ tài chính khi đến hạn. Đồng tình với quan điểm theo nghĩa hẹp của Defan (2005), Ennouri (2013) khẳng định rủi ro tài chính có nghĩa là sự tiếp xúc của một công ty với những tổn thất tiềm tàng trong tương lai. Những tổn thất đó có thể phát sinh từ những thay đổi trên thị trường tài chính, từ việc các doanh nghiệp mắc nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán.
Đi sâu về vấn đề này, Horcher (2011) cho rằng rủi ro tài chính phát sinh thông qua vô số giao dịch có tính chất tài chính, bao gồm mua bán, đầu tư và cho vay, và các hoạt động khác hoạt động kinh doanh. Nó có thể phát sinh do các giao dịch pháp lý, dự án mới, sáp nhập và mua lại, tài trợ nợ, thành phần năng lượng của chi phí, hoặc thông qua các hoạt động của ban quản lý, các bên liên quan, đối thủ cạnh tranh, chính phủ nước ngoài hoặc thậm chí cả thời tiết. Cách phân loại được sử dụng bởi Eichhorn (2004) cung cấp một cách tiếp cận có giá trị để xác định và nắm bắt rủi ro tài chính: ông phân biệt rủi ro tài chính bên ngoài và bên trong. Theo quan điểm của ông, rủi ro tài chính bên ngoài là kết quả của những thay đổi về tài chính thị trường, trong khi rủi ro tài chính nội bộ do chính doanh nghiệp 6 gây ra.
Đồng tình với quan điểm này, Napp (2011) cho rằng RRTC đến từ rủi ro môi trường và rủi ro nội tại. Rủi ro môi trường phụ thuộc vào những thay đổi trên thị trường tài chính như: tỷ giá, lãi suất, giá cả hàng hóa… Rủi ro nội tại bắt nguồn từ tình hình tài chính của DN. Cùng với đó, theo Zhea & cộng sự (2012) nhận đình RRTC là xác suất mất vốn khi sử dụng các phương pháp tài trợ, điều này làm giảm khả năng DN hoạt động trở lại. Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008) cho rằng RRTC là sự giao động hay tính biến đổi tỷ lệ thuận của tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (VCSH) hoặc thu nhập trên một cổ phiếu, đồng thời làm mất khả năng thanh toán có xác suất tăng khi DN sử dụng vốn vay và các nguồn tài trợ khác có chi phí tài chính cố định.
Bên cạnh đó, Vũ Thị Hậu (2013) cho rằng RRTC bao gồm: rủi ro theo nghĩa rộng và rủi ro theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: RRTC là khả năng xảy ra những tổn thất gắn liền với hoạt động tài chính như: đầu tư, vay nợ, mua bán… có gắn liền với những tác động bên ngoài DN như sự thay đổi thể chế chính sách của Chính phủ, của môi trường chính trị, yếu tố thiên tai. Theo nghĩa hẹp, RRTC là khả năng xảy ra tổn thất DN phải chịu khi huy động vốn từ nguồn vốn đi chiếm dụng để đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Mặt khác, Phạm Tuấn Anh (2017) cho rằng RRTC của DN là rủi ro đối với quá trình tài trợ và đầu tư các quỹ của DN, là nguyên nhân gây ra sự bất định trong quản trị tài chính DN.
Hay như Đàm Thị Thanh Huyền và cộng sự (2021) trên cơ sở quan điểm về rủi ro, đã cho rằng rủi ro tài chính của doanh nghiệp liên quan đến sự thay đổi giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và việc thực hiện các quyết định tài chính của doanh nghiệp làm biến động tỷ số sinh lời thực tế so với tỷ suất sinh lời kỳ vọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Từ các quan điểm đi trước, tác giả nhận thấy rằng rủi ro tài chính là những rủi ro phát sinh khi doanh nghiệp huy động và sử dụng nguồn vốn nợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cụm từ này phản ảnh những nhân tố bên trong và bên ngoài tác động lên tình hình tài chính của doanh nghiệp, tổ chức tài chính. Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là việc họ sẽ mất khả năng thanh toán các khoản nợ tài chính khi đến hạn, điều đó có thể ảnh hưởng đến việc hoạt động sản xuất và kinh doanh, danh tiếng, thậm chí có thể đưa doanh nghiệp, tổ chức tài chính đó đến bờ vực phá sản.
Các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính ● Nhân tố bên trong doanh nghiệp - Cơ cấu nợ: Theo lý thyết đánh đổi của Modigliani và Miller (1963), khi giá trị công ty đạt điểm tối ưu có nghĩa là xác định được cơ cấu vốn tối ưu (Tỷ trọng nợ và VCSH tối ưu).