Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản Rối loạn cơ xương là thuật ngữ biểu thị các vấn đề sức khỏe của bộ máy vận động, tức là cơ bắp, gân, xương, sụn, dây chằng và dây thần kinh [50]. RLCX dẫn đến tăng tỷ lệ luân chuyển công việc và nghỉ ốm dài, thể hiện gánh nặng kinh tế và xã hội do khuyết tật dài hạn và giảm hiệu quả công việc. RLCX bao gồm tất cả các chấn thương liên quan đến hệ thống vận động, đặc biệt là cơ, khớp, dây chằng, gân và dây thần kinh.
Mặc dù đau lưng dưới là vấn đề sức khỏe được báo cáo phổ biến nhất, RLCX khá thường xuyên ảnh hưởng đến các vùng cơ thể khác như chi trên [12], [27]. Triệu chứng phổ biến nhất của RLCX là đau. Người mắc RLCX có thể xuất hiện cứng khớp, tấy đỏ, căng cơ và sưng vùng bị chấn thương hay chèn ép. Trong một số trường hợp có thể có cảm giác “bứt rứt như kiến bò”, tê liệt, hay thay đổi sắc thái ở da hoặc giảm tiết mồ hôi ở bàn tay [50].
Nhân viên văn phòng (NVVP): Theo khái niệm của quản trị và hành chính công, văn phòng là bộ máy làm việc tổng hợp của một cơ quan hay đơn vị chức năng, phục vụ cho việc điều hành của lãnh đạo. Nhiệm vụ của văn phòng là thu thập, xử lý thông tin hỗ trợ cho hoạt động quản lý; đồng thời đảm bảo các điều kiện về vật chất kĩ thuật cho hoạt động chung của toàn cơ quan, tổ chức đó. Nhân viên văn phòng là những người làm việc ở bộ máy nêu trên [2]. Trong nghiên cứu này, NVVP được hiểu là cán bộ nhân viên làm công việc việc thu thập, tổng hợp, hỗ trợ cho hoạt động quản lý, những người này thường xuyên ngồi một chỗ có sử dụng máy tính để làm việc.
RLCX chi trên là các bệnh về cơ xương hay tình trạng cơ xương ở các bộ phận của chi trên bị suy yếu chức năng. RLCX chi trên thường là những cơn đau ảnh hưởng đến cơ, dây chằng, gân, xương của vùng tay, cánh tay, bàn tay, cổ tay. Thông thường, bệnh nhân RLCX chi trên thường gặp các bệnh: Hội chứng đường hầm cổ 5 tay; Viêm lồi cầu ngoài xương cánh tay (bệnh khuỷu tay tenit); Ngón tay kích hoạt; Viêm gân xoay cổ tay; Cứng khớp vai… [27]. Theo một khái niệm khác của Hội đồng sức khỏe và an toàn lao động cho rằng RLCX chi trên có thể xuất phát từ việc gắng sức thường xuyên, lặp đi lặp lại các hoạt động ở chi trên và tư thế không đúng tại nơi làm việc.
Các bộ phận chi trên được đề cập đến bao gồm: Vai, Cánh tay trên, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay và ngón tay [10]. Triệu chứng thường gặp: Rối loạn cơ xương gây ra tình trạng viêm ở nhiều bộ phận khác nhau của cơ thể. Những người bị rối loạn cơ xương có thể cảm thấy đau ở toàn bộ cơ thể. Các cơ trong cơ thể có cảm giác như bị đốt hoặc vặn xoắn như thể là chúng đang làm việc quá sức hoặc bị kéo dãn ra.
Các triệu chứng sẽ khác nhau tùy thể trạng từng người nhưng những dấu hiệu và triệu chứng thông thường bao gồm: Đau/đau khi ấn; Mệt mỏi; Rối loạn giấc ngủ; Viêm, sưng, đỏ; Giảm phạm vi chuyển động của khớp; Mất chức năng hoạt động của khớp; Ngứa ran; Tê hoặc cứng cơ, khớp; Cơ yếu hoặc giảm lực cầm nắm [22], [26], [39], [64]. Nguyên nhân RLCX: Do cơ xương khớp bao gồm nhiều bộ phận trên cơ thể, vì vậy nguyên nhân gây đau cơ xương rất đa dạng. Nguyên nhân chính xác của đau phụ thuộc vào: • Tuổi tác: Người lớn tuổi có nhiều khả năng bị đau cơ do các bộ phần đang bị lão hóa. • Nghề nghiệp: Một số công việc đòi hỏi thực hiện các động tác lặp đi lặp lại hoặc phải duy trì những tư thế không tốt cho sức khỏe sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện các rối loạn cơ xương khớp.
• Mức độ hoạt động: Sử dụng quá nhiều cơ bắp hoặc không hoạt động ví dụ như ngồi cả ngày có thể gây ra rối loạn cơ xương khớp. • Lối sống: Các vận động viên thường có nhiều nguy cơ mắc phải rối loạn cơ xương khớp. Các mô cơ thể bị hư hỏng và hao mòn do quá trình hoạt động hằng ngày. Ngoài ra, chấn thương do một tai nạn xe hơi, té ngã, cũng có thể gây ra đau cơ 6 xương khớp.
Những nguyên nhân khác bao gồm đau do đứng hay ngồi ở tư thế cột sống không thẳng trong một thời gian dài [39], [64]. Điều trị RLCX: Tùy thuộc vào nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của cơn đau, có những phương pháp điều trị khác nhau cho các rối loạn cơ xương. Đối với đau nhẹ hoặc thỉnh thoảng, có thể dùng các thuốc giảm đau như ibuprofen hay paracetamol. Các thuốc kháng viêm không chứa steroid có thể được sử dụng để điều trị viêm và đau.
Với cơn đau nặng hơn, bạn có thể cần thuốc giảm đau mạnh hơn sẽ cần phải có toa của bác sĩ. Đối với tình trạng đau liên quan đến công việc, vật lý trị liệu có thể giúp bạn tránh bị tổn thương thêm và làm giảm đau. Ngoài ra, có các phương pháp điều trị khác có thể bao gồm: Kỹ thuật thư giãn; Tiêm với các thuốc gây tê hoặc thuốc chống viêm; Tập các bài tập thể dục giúp tăng cường sức cơ và dãn cơ; Vật lý trị liệu cột sống; Xoa bóp chữa bệnh [64]. Thực trạng rối loạn cơ xương chi trên ở nhân viên văn phòng Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đều chi thấy cho thấy có một tỷ lệ đáng kể những người làm việc tại văn phòng có sử dụng máy tính có tỉ lệ cao về các triệu chứng RLCX [37].
Thế giới cũng ghi nhận các kết quả nghiên cứu về RLCX chi trên ở nhân viên văn phòng. Nhìn chung, tỷ lệ mắc RLCX chi trên trên Thế giới vào khoảng từ 15% đến 70 %. Nghiên cứu cắt ngang khác của nhóm tác giả Madan và cộng sự (2008) ở Ấn Độ và Anh đối với 424 người (165 người Ấn Độ, 67 người Anh gốc Ấn và 172 người anh da trắng) làm việc văn phòng có sử dụng máy tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đau vai gáy ở nhân viên văn phòng ở Anh là 38%, đau cánh tay là 44%, đau cổ tay/bàn tay (35%).
NVVP ở Ấn Độ có tỷ lệ đau ở cổ tay và bàn tay thấp hơn so với NVVP ở Anh [51]. Cùng thời điểm đó, với mục đích xác định tỉ lệ tổn thương và các yếu tố ảnh hưởng đến các triệu chứng cơ xương chi trên và cổ của 1065 NVVP đang làm việc với máy hiển thị hình ảnh, Klussmann A và cộng sự đã sử dụng Bảng câu hỏi Nordic, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc trong 12 tháng của các triệu chứng ở vùng vai, bàn tay/cổ tay hoặc khuỷu tay/cánh tay dưới lần lượt là 7 38%, 21% và 15% [47]. Năm 2011, nghiên cứu ở Sri Lanka của Ranasinghe và cộng sự về mức độ tổn thương chi trên của NVVP máy tính tại một công ty viễn thông cho tỷ lệ NVVP trong nghiên cứu bị đau cẳng tay/bàn tay (42,6%) và vai/cánh tay (32,0%) (nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm MUEQ – Maastricht Upper Extremity Questionnaire) [62]. Ghi nhận gần đây nhất là nghiên cứu của Gintare và cộng sự (năm 2016) đánh giá mức độ phổ biến của đau cơ xương ở các khu vực giải phẫu khác nhau của nhân viên đang làm việc trên máy tính của khu vực công ở Kaunas, Litva, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bị RLCX ở vai, khuỷu tay, cổ tay/bàn tay của nhân viên văn phòng lần lượt là 50,5%, 20,3%, 26,3%.
Trong những đối tượng RLCX, cổ là vị trí đau phổ biến nhất, lên tới 70% và tỉ lệ đau vai cũng lên tới 50% [37]. Nghiên cứu của Oha K và cộng sự (2014) với mục đích đánh giá mức độ phổ biến của đau cơ xương theo vùng giải phẫu trong 12 tháng qua và mối liên hệ với đặc điểm cá nhân và các yếu tố rủi ro liên quan đến công việc văn phòng sử dụng máy tính ở Estonia. Thực hiện khảo sát cắt ngang, các bảng câu hỏi tự điền được gửi đến cho 202 người dùng máy tính tại hai trường đại học ở Estonia. Bảng câu hỏi đo mức độ đau xương tại các vị trí giải phẫu khác nhau, và các yếu tố rủi ro liên quan đến cá nhân và công việc.
Phân tích về yếu tố rủi ro được thực hiện thông qua hồi quy logistic, hầu hết những người được hỏi (77%) đã báo cáo mắc RLCX ở ít nhất một vùng giải phẫu trong 12 tháng qua [54]. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về RLCX phần lớn tập trung vào các ngành nghề lao động nặng, chưa có nhiều nghiên cứu về RLCX đặc biệt là trên nhóm đối tượng là NVVP. Tuy nhiên một số nghiên cứu khác về cơ xương khớp ở các đối tượng lao động khác đã ghi nhận có tỷ lệ đáng kể đau các vị trí khác nhau ở bộ phận chi trên. Nghiên cứu tình trạng đau mỏi cơ xương ở công nhân sản xuất giày và cơ khí của Đỗ Anh Tuấn và cộng sự trên 88 nam nữ công nhân ở nhà máy giấy Ngọc Hà cho thấy ở công nhân gò: 96,8% đau bả vai phải, 92,1% đau bả vai trái, 82,5% 8 đau cánh tay phải, 74,6% đau cánh tay trái, 63,5% đau cổ tay.
Ở công nhân cơ khí, tỉ lệ này tương tự là 59,8% đau bả vai phải, 63,4% đau bả vai trái [4]. Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự, trên 306 công nhân trực tiếp thu gom rác thải làm việc tại công ty môi trường đô thị URENCO cho thấy có 41,2% công nhân đau ở vai, 26,8% đau ở cẳng tay, 29,4% đau ở bàn tay [6]. Nghiên cứu cắt ngang của Trần Thị Thu Thủy (2012) xác định mức độ đau mỏi vai gáy và mối liên quan giữa một số yếu tố nghề nghiệp và chỉ số tàn tật cổ (NDI- Neck Disability Index) trong 316 NVVP sử dụng máy vi tính (để bàn hoặc xách tay) để làm việc. Các đối tượng này là nhân viên có hợp đồng, làm việc tối thiểu 20 giờ/tuần và sử dụng máy vi tính trong phần lớn thời gian làm việc trong vòng 3 tháng tính từ thời điểm nghiên cứu.
Đối tượng đau mức nhẹ chiếm 64,6%, mức độ trung bình chiếm 10,7% và đối tượng đau nặng chiếm 0,6%. Trung bình chỉ số NDI 17,2 và tăng tại các nhóm có bị đau gáy (21,1) [8].