Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhận diện những rào cản trong CGCN có liên quan đến quyền SHCN. Chương 2: Thực trạng những rào cản trong CGCN có liên quan đến quyền SHCN. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp khắc phục những rào cản trong CGCN có liên quan đến quyền SHCN tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE NHAN DIỆN NHỮNG RÀO CAN TRONG CHUYEN GIAO CÔNG NGHỆ CÓ LIÊN QUAN DEN QUYEN SHCN.
Một số khái niệm 1. Khái niệm công nghệ Khi nói đến công nghệ chúng ta lại thường gặp các thuật ngữ như: công nghệ lạc hậu, công nghệ thấp (có người hài hước còn nói là công nghệ lùn), công nghệ truyền thống, công nghệ thích hợp, công nghệ tối ưu, công nghệ nền, công nghệ nguồn, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ hiện đại, công nghệ trong trang thiết bị. gần đây còn xuất hiện các thuật ngữ “tầng công nghệ, vành đai công nghệ”. Công nghệ có nguồn gốc từ thuật ngữ “Technologia” trong tiếng Hy lap “techne” có nghĩa là “thủ công” và logia có nghĩa là “châm ngôn” như vậy thuật ngữ này hiểu một cách đơn giản là để ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người.
Qua các khái niệm về công nghệ như trên ta thấy mỗi công nghệ đều bao gồm bốn thành phần chính [2, tr. 14-15]: (i) Kỹ Thuật (Technoware -T): bao gồm may móc, thiết bị. Thành phan kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào. Nhờ máy móc thiết bị, phương tiện mà con người tăng được; sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất.
(ii) Con Người: (Humanware - H): bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng đo học hỏi tích lũy trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm tính chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức trong lao động; (iii) Thông tin (Inforware - I): bao gồm các dit liệu về kỹ thuật, về con người và tô chức. 13 (iv) Tổ chức (Orgaware - O): bao gồm các hoạt động cần thiết dé xác định cơ cấu của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận dé giao cho các bộ phận, cho người chỉ huy các chức năng và nhiệm vụ nhất định dé thực hiện nhiệm vụ. Hoạt động của tô chức là việc bố trí, sắp xếp, triển khai thực hiện các công việc như tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, tô chức thực hiện. dự án, tô chức thực hiện dự án của dự án, tổ chức xây dựng, tổ chức thi công của công trường.
Khái niệm chuyền giao công nghệ: CGCN là chuyên nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyền giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ” [9, Điều 7]. Có nhiều quan niệm về CGCN: ở nước ta một số người đã từng có quan niệm CGCN một cach khá đơn giản như là việc áp dụng tiễn bộ kỹ thuật, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống, đây là cách hiểu đơn giản chưa đầy đủ coi quá trình CGCN chỉ là việc áp dụng một cách máy móc những công nghệ đã có sẵn, mà không cần có nhiều kiến thức và năng lực, coi nhẹ các vấn đề về SHTT, quyền sở hữu đối với sáng chế. Ngoài ra còn có rất nhiều quan niệm khác nhau thé nao là CGCN: theo Luật chuyền giao công nghệ năm 2006 CGCN là “chuyền giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ”. Các hình thức chuyển giao công nghệ: Có các hình thức chuyền giao công nghệ sau: - Hợp đồng CGCN độc lập; - Phần CGCN trong dự án hoặc hợp đồng, CGCN qua các hình thức: a) Dự án đầu tư; b) Góp vốn bằng công nghệ; 14 c) Nhượng quyền thương mại; d) Chuyên giao quyền sở hữu công nghiệp; đ) Mua, bán máy móc, thiết bị quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Luật này.
CGCN bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hiện nay ở Việt Nam đang tôn tai các hình thức CGCN phổ biến như sau: Chuyén nhượng quyền SHTT. Chuyén giao quyền sử dung (li-xang quyền SHTT). Hop đồng chuyền giao bí quyết kỹ thuat.
Nhượng quyền thương mai. Bán và nhập khẩu tư liệu sản xuất. Hợp đồng liên doanh, liên kết. Dự án chìa khóa trao tay.
Chuyên giao quyên sở hữu công nghiệp: 1.4 Tình hình chuyển giao công nghệ trong nước và kết quả hoạt động KH&CN của một số Doanh nghiệp: Ở nước ta hiện nay, nhìn chung hoạt động CGCN giữa các viện, trường và cơ sở nghiên cứu cho doanh nghiệp (DN) còn hạn chế, mang tính cục bộ, phạm vi hẹp, tự phát, thiếu các cơ quan dịch vụ trung gian môi giới hợp đồng triển khai công nghệ, liên kết giữa người mua và người bán công nghệ. Việc CGCN giữa các DN trong nước còn ít, quy mô nhỏ, nội dung CGCN thường không day đủ và hình thức chuyền giao con đơn giản. Kết quả ứng dụng và chuyển giao công nghệ của một số doanh nghiệp lớn điền hình ở Việt Nam, cụ thé: (1) Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel): Năm 2015 Viettel đã trích khoảng hơn 4.500 tỷ đồng từ 10% lợi nhuận trước thuế cho quỹ phát triển 15 KH&CN tập trung đầu tư lớn cho các dự án nghiên cứu của Viện nghiên cứu và phát triển Viettel hiện nay, doanh nghiệp này đã có 7 đơn vị nghiên cứu (Viện NCPT Viettel, Viện HKVT Viettel, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ mạng, Trung tâm nghiên cứu sản xuất các thiết bị đầu cuối, Trung tâm An ninh mạng, Trung tâm Giải pháp CNTT và Viễn thông, Trung tâm Phần mềm) và2 Nhà máy sản xuất (Công ty Thông tin MI, Công ty Thông tin M3). Sự đầu tư này đã thực sự phát huy hiệu quả, giúp Viettel nhanh chóng ra mắt nhiều sản pham gia tri chi trong thoi gian ngan, dong gop thiết thực cho sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung [17].
(2) Tap doan dau khi Viét Nam (Petro VietNam): tap doan da tiép nhan chuyên giao, áp dung và làm chủ hàng loạt công nghệ hiện đại bậc nhất của thế giới vào các lĩnh vực hoạt động của ngành khai thác dầu khí như: Trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí: Tập đoàn sử dụng nhiều công nghệ hiện đại, ứng dụng công nghệ mới nhất của công nghệ tin học như phần mềm xử lý tài liệu địa chấn Promax, minh giải địa chan của GeoQuest va Landmark, mô phỏng của GeoQuest (Eclipse) của CMG (EMEX, GEM, STARS), pham mém cho khoan Drilling Office, công nghệ tự động trong khoan và khai thác cũng được áp dụng rộng rãi. Tập đoàn đã nghiên cứu và dan hoàn thiện công nghệ khai thác các thân dầu trong đá móng granitoit trước đệ tam mỏ Bạch Hồ. Trong lĩnh vực hóa chế biến dầu khí: Tập đoàn đã ứng dụng công nghệ mới như UOP, Merichem, ABB (Mỹ), Snamprogetti (Italy), Haldor & Topsoe (Đan Mạch). và nhận được CGCN thành công vào các nhà máy trong lình vực nay.
(3) Công ty cô phần Sữa Việt Nam (Vinamilk): Vinamilk đây mạnh mũi nhọn KH&CN, áp dụng các tiễn bộ khoa học kỹ 16 thuật mới vào sản xuất, nhăm tăng chủng loại và tăng chất lượng sản phẩm, cải tiễn mẫu mã, bao bi, lựa chọn công nghệ thích hợp đối với các sản phẩm mới; nâng cao trình độ cạnh tranh đối với các sản pham cùng loại trên thị trường. Từ hai nhà máy sữa đầu tiên là Nhà máy Sữa Thống Nhất và Nhà máy Sữa Trường Thọ, đến nay, Vinamilk đã có tổng cộng 13 nhà máy trên cả nước, trải dai từ Bắc đến Nam, mà nổi bật nhất là siêu nhà máy sữa sản xuất sữa nước với dây chuyén sản xuất sữa tươi tiệt trùng với thiết bị hiện đại và công nghệ sản xuất tiên tiến hàng đầu. Siêu nhà máy sữa nước Vinamilk tại Bình Dương là một trong số ít nhà máy trên thế giới có công nghệ tự động tiên tiến nhất mà tập đoàn Tetra Pak từng triển khai. Với diện tích xây dựng 20 ha, công suất giai đoạn 1 là hơn 400 triệu lít sữa/năm và dự kiến đầu tư tiếp giai đoạn 2 vào năm 2017 dé nâng công suất lên 800 triệu lít sữa/năm [14].
CGCN qua các dự án đầu tư nước ngoài: Theo Bộ KH&CN (KHCN) các hợp đồng CGCN đã được phê duyệt, số hợp đồng thuộc lĩnh vực công nghiệp hiện chiếm tới 63%, chế biến nông sản, thực phâm chiếm 26% và y dược, mỹ phẩm chiếm 11%. Thông qua hoạt động FDI, nhiều công nghệ mới đã được thực hiện CGCN và nhiều sản phẩm mới đã được sản xuất trong các xí nghiệp FDI; nhiều cán bộ, công nhân đã được đào tạo mới và đào tạo lại để cập nhật kiến thức phù hợp với yêu cầu mới. Hoạt động FDI cũng có tác động thúc đây phát triển công nghệ trong nước trong bối cảnh có sự canh tranh của cơ chế thị trường. CGCN thông qua nhập khẩu thiết bị, máy móc: Nhờ có những điều chỉnh trong cơ chế và chính sách kinh tế mà quan hệ thương mại được mở rộng, tạo ra những cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận được những thành tựu mới của KHCN, từ đó đôi mới công nghệ sản xuất, nâng cao khả năng canh tranh của sản phẩm, trình độ tay nghề của người lao động và năng suât lao động được nâng lên.
17 Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động CGCN còn ton tại một số hạn chế như: Số lượng và quy mô các dự án FDI vào Việt Nam là chưa nhiều, các luồng và đối tượng không đa dạng; Tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế còn yếu, do hầu hết công nghệ sử dụng trong dự án FDI là công nghệ đã và đang được sử dụng phô biến ở chính quốc; Y thức thực hiện luật pháp trong CGCN là thấp, các quy định về điều kiện ràng buộc chưa tạo thành rào cản. Nguyên nhân có nhiều nhưng tựu chung là do cơ chế quản lý kinh tế chưa tao môi trường thuận lợi cho hoạt động CGCN; Đầu tư phát triển KHCN còn hạn hẹp; CGCN trong điều kiện đổi mới công nghệ còn lẻ tẻ, thiếu quy hoạch và chiến lược; Năng lực tiếp nhận công nghệ của DN Việt Nam còn yếu; Trình độ thâm định công nghệ còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng nâng giá công nghệ quá mức, gây thiệt hại trước mắt và lâu dài cho phía Việt Nam. Những năm vừa qua, Việt Nam đã chú trọng trong việc tận dụng CGCN từ nước ngoài va đạt nhiều thành tựu nỗi bật.