CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE QUYEN BAO MAT TTCN 1. Khai quát về TTCN 1. Khai niém TTCN Theo từ điển Tiếng Việt, “thông tin” được giải thích là “sự truyén dat, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thé giới xung quanh và những qua trình xảy ra trong no”! Còn “cá nhân” có thé hiểu là một thực thé xã hội, là tổng hòa của các mỗi quan hệ.
Dé thực hiện các hoạt động sống cũng như làm việc, các cá nhân phải tham gia vào các không gian khác nhau như môi trường công việc, môi trường học tập, môi trường cộng đồng. Trong mỗi không gian này, từng cá nhân vừa chia sẻ những yếu tố chung cùng các cá nhân khác lại vừa “sở hữu”, “năm giữ” những yếu tố thuộc về riêng mình. Có thể thấy, khái niệm “TTCN” được tiếp cận không chỉ từ một góc nhìn mà có thê đi từ nhiều chiều không gian nghiên cứu. Theo đó, TTCN được hiểu là tất cả những øì thuộc về, liên quan đến một con người nhất định, được cấu thành bởi hai yếu tố là nội dung thông tin (tin, dữ kiện, dữ liệu) và hình thức thông tin (văn bản, tài liệu, bản vẽ, thư tín, điện thoại, cơ sở dt liệu.
Thuật ngữ TTCN (TTCN) được phi nhận và trở nên phổ biến trong khoa học pháp ly từ vài thập niên gần đây, khi được tiếp cận trên quan điêm là một vân dé gan liên với bảo vệ quyên con người (human rights), cụ thê hon là ! http://tratu.vn/dict/vn_vn/Th%C3%B4ng tin 5 quyên riêng tu (rights to privacy). Thuật ngữ TTCN được sử dụng phô biến ở các nước như Úc, Canada, Nhật Bản và một số nước châu Á khác. Tuy nhiên, khái niệm giữa các văn bản van còn sự khác biệt nhất định. Hướng dan bảo vệ quyền riêng tư và dịch chuyển DLCN giữa các quốc gia (1980); Hiệp ước bảo vệ cá nhân liên quan đến xử lý tự động DLCN (1981); Chi thị bảo vệ cá nhân liên quan đến xử lý và dịch chuyển tự do DLCN của Nghị viên châu Âu (1995) đưa ra 3 khái niệm khác nhau về dữ liệu cá nhân.
Hay khái niệm TTCN trong Đạo luật về Quyền riêng tư của Úc năm 1998 và trong Khuôn khô chung về quyền riêng tư (2015) của APEC cũng không giống nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ “TTCN” đã được nhắc tới lần đầu tiên trong Luật Dược năm 2005 và yêu cầu bảo mật “TTCN” trong lĩnh vực hàng không đã được đề cập trong Luật Hàng không dân dụng năm 2006. Tuy nhiên, thuật ngữ “thông tin cá nhân” đã được sử dụng tại khoản 3 Điều 57 Luật Dược năm 2005 và điểm đ khoản 2 Điều 126 Luật Hàng không dân dụng năm 2006 dù không giải thích rõ ràng. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước là văn bản pháp luật quy định khái quát khái niệm TTCN.
Theo đó, “TTCN” là “(hông tin du để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gém it nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng mình nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gém có hô sơ y tế, hô sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dung và những bí mat ca nhân khác ”. Có thê thấy, dù chưa chính xác, đầy đủ nhưng khái niệm TTCN trên đã có cách tiếp cận đúng và dần tiệm cận với các khái niệm được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Riêng với lĩnh vực thương mại điện tử, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử có khá nhiều quy định quan trọng về bảo vệ TTCN của người tiêu dùng.
Điều đặc biệt, Nghị định này (Khoản 13 Điều 3) đã chính thức đưa ra định nghĩa “TTCN” là “các thông tin góp phan định danh một cá nhân cụ thé, bao gom tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật”. Nghị định này cũng chính thức sử dụng cụm từ “chủ thể thông tin” tương đồng với thuật ngữ “information subject” (hoặc data subject) mà pháp luật về bảo vệ TTCN ở nhiều quốc gia xác định. Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) đã bổ sung quy định về “quyền về đời sống riêng tư” tại Điều 38 bên cạnh các nội dung về “bí mật cá nhân” và “bí mật gia đình” vốn đã được quy định trong BLDS năm 1995 và 2005 trước đó. Trong năm 2015, Luật An toàn thông tin mạng (Luật ATTM) được ban hành với nhiều quy định về bảo vệ TTCN trên môi trường mạng (trên không gian mạng).
Trong Luật ATTTM, lần đầu tiên thuật ngữ “TTCN” được một đạo luật giải thích là “thông tin 6 gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể” (khoản 15 Điều 3), đây là quy định hết sức chung chung, mang tính khái quát, thiếu tính đầy đủ, cụ thể. Với quy định này, rất khó có thê xác định thông tin nào của cá nhân là TTCN được pháp luật bảo vệ. Cho đến nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa thống nhất về thuật ngữ sử dụng cũng như chưa đưa ra được khái niệm TTCN một cách đầy đủ, chính xác. Vẫn còn một số thuật ngữ như: thông tin số, thông tin riêng, TTCN trên môi trường mạng (Luật CNTT 2006, sửa đổi bố sung năm 2017); thông tin về bí mật đời tư, dữ liệu (Luật giao dịch điện tử 2005); thông tin riêng (Luật viễn thông 2009 sửa đồi bổ sung năm 2018); TTCN, dữ liệu về TTCN (Luật ATTTM 2015 sửa đổi bổ sung 2018).
Trong các thuật ngữ pháp lý trên, chỉ có một số được định nghĩa, giải thích trong các văn bản pháp luật; số còn lại chi được sử dụng mà không giải thích, định nghĩa. Ngay cả khái nệm TTCN được phi nhận trong Luật an toàn thông tin mang năm 2015 — được coi là luật chuyên ngành thì cũng chỉ quy định hết sức chung chung, mang tính khái quát, thiếu tính đầy đủ, cụ thể. Khoản 15, Điều 3 Luật này quy định TTCN là thông tin gan với việc xác định danh tính của một người cụ thé. Có thé thấy, van chưa thé xác định chính xác thông tin nào là TTCN được pháp luật bảo vệ.
Bởi, các khái niệm mang tính khái quát rất cao, trong khi thông tin liên quan đến cá nhân trên thực tế vô cùng đa dạng, phong phú và tuỳ thuộc vào tình huống, bối cảnh mà từ thông tin đó có thé hoặc không thé xác định được cá nhân đó là ai trong xã hội. Đây là một van đề ma Nhà nước cần có những văn bản hướng dẫn cụ thẻ. Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu xin được đưa ra ý kiến sử dụng thống nhất một thuật ngữ pháp lý “77CN” là những thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự thuộc về cá nhân. Những khía cạnh cụ thể của TTCN bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong những thông tin sau đây: Thông tin mô tả cá nhân: Tên, tuổi, nơi sinh, ngày sinh, giới tính, cân nặng, chiều cao, màu mắt, màu tóc, dau vân tay, mong mắt.; Số nhận dạng: Số căn cước công dân, số hộ chiếu, SỐ y tế, số bảo hiểm xã hội, số an sinh xã hội, số PIN,.; 7hông tin về dân tộc/chủng tộc: Ching tộc, màu da, nguồn gốc dân tộc.; 7hồng tin về sức khỏe: Điều trị y te/Kham sức khỏe; Hồ sơ bệnh án; Tình trạng sức khỏe, khuyết tật, di truyén.); Lich sử sức khoẻ của gia đình hoặc cá nhân; Don thuốc.; Thông tin về tài chính: Thu nhập, hồ sơ thu nhập, hồ sơ nợ, giao dịch, thói quen mua bán và chi tiêu.; Théng tin tin dụng: Hồ sơ tín dụng, khả năng tin dung, uy tin tín dụng, mức tín nhiệm tín dung,.; Thông tin về việc làm: Hồ sơ nhân viên, lịch sử việc làm, đánh giá năng lực; phỏng vấn, khen thưởng/kỷ luật.; Thông fin hình sự: Lý lịch tư pháp, hồ sơ tội phạm, tiền án, tiền sự.; Thông tin về giáo dục: Lịch sử giáo dục; hồ sơ học bạ, điểm thi.; 7;hông tin về đời sống: Tính cách, danh tiếng chung, đặc điểm, địa vị xã hội, tình trạng hôn nhân, khuynh hướng tình dục, bí mật gia đình, niềm tin lương tâm, tôn giáo, tư tưởng tôn giáo, 7 tín ngưỡng, tư tưởng chính tri, quan điểm chính trị, quan điểm cá nhân, sở thích cá nhân, ý kiến, bình luận.
Như vậy, từ góc độ nhận diện, có thé khái quát rằng, “thông tin cá nhân ” là những diéu, tin tức có nội dụng liên quan, thuộc VỀ một con người tự nhiên và được ghi nhận, thể hiện trong các vật mang tin do cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tạo ra mà từ việc sử dụng một hoặc kết hợp nhiều diéu, tin tức đó, có thể nhận diện, xác định được con người đó trong xã hội. Các thông tin thuộc về cá nhân được xác định là các nội dụng thể hiện các yếu tố, chỉ tiết, phan ánh nhận diện về từng cá nhân, không giao thoa hay chia sẻ với các cả nhân khác. Đặc điểm của TTCN Thứ nhất, TTCN là yếu tô thuộc về nhân thân của mỗi cá nhân. Do đó, TTCN gắn liền với mỗi cá nhân xác định và không thể chuyên giao sang cho cá nhân khác.
Các thông tin của cá nhân có chức năng phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác. Tuy nhiên, trên thực tế, TTCN cũng có thê mang tính trùng lặp, một thông tin hoàn toàn trùng khớp có thê xảy ra giữa hai hay nhiều cá nhân, ví đụ: Nhiễu cá nhân trong xã hội trùng khóp thông tin về giới tính, tên gọi, ngày tháng năm sinh. Khi một trong các loại thông tin của một cá nhân bị trùng khớp với cá nhân khác thì cần dùng thêm các loại thông tin khác để cá biệt hóa cá nhân. Thứ hai, TTCN mang tính xác thực.
Nội dung thông tin phải có thực (kê cả tin thật, tin giả) và con người có thể nhận biết được (trực tiếp hoặc gián tiếp). Đồng thời và quan trong hon, từ một hoặc liên kết các thông tin đó thì con người (chủ yếu là dé thiết chế nhà nước) có thể xác định, nhận dạng được đó là cá nhân cụ thể nào trong xã hội (nhằm quản lý, theo dõi được danh tính cá nhân).